Ca Dao Phú Yên-OY

Ca Dao Phú Yên – O đến Y

Ô Loan nước lặng như tờ,
Thương người chiến sĩ dựng cờ Cân vương
Trải bao gối đất nằm sương,
Một lòng vì nước nêu gương anh hùng.
* Đầm Ô Loan: Một thắng cảnh của Phú Yên. Nơi đây, ông Tú Phương (người Phú Yên) đã lãnh đạo nghĩa quân hướng ứng phong trào Cân vương chống Pháp.
Ông phật ngồi cũng phải thắt cười
Áo em em bận, sao mấy người xỏ tay?
* Thắc cười = mắc cười, buồn cười
Ông tiều hái củi non du
Bò nhọt đút đít chổng khu kêu trời.
Quạ bay mỏi cánh quạ sà,
Lấy chồng xa xứ, bỏ mẹ già cút cui.
Quạ kêu ba tiếng quạ sà
Khi nào qua rảnh qua nhà bậu chơi
Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên
Em đố anh mấy tỉnh , em kết duyên tỉnh nào
Phải chi nhan sắc em còn,
Anh lăn vô đó chiều lòn cũng cam.
Phải dè hồi lụt chết trôi
Sống làm chi phải chịu mồ côi một mình!
* Phải dè = Giá như
Phải gần, lóng trước đã gần,
Bây giờ có tưởng, mấy phần của cũng xa.
Phải như chàng khứng dạ đá vàng,
Cầm dao huyết thệ, (đây) thì nàng mới tin.
Phía bên em trăm việc lo toan,
Phía bên anh có ngó ngàng gì đâu na?
Phú Thuận kéo vải bắn bông,
Mỹ Thành, Lạc Chỉ, Ngọc Lâm chai đèn.
Quận Tuy Hòa có hòn Tháp Nhạn
Chốn Sông Cầu dừa mát bóng râm
Phú Yên lắm cảnh danh lam
Sơn Hòa có suối, Đồng Xuân có rừng
Tuy An nước lặng mây dừng
Đất vườn mầu mỡ nên xuân xứ nầy
Thương chàng tỏ thiệt nơi đây
Phú yên trù phú tháng ngày thong dong
Qua truông em đạp phải gai,
Anh ngồi anh lể cho ai đây nè?
Quân tử lắm lông chân, tiểu nhân nhiều lông rốn
Răng đều, khít, kín, tốt , cân phân
Nhỏ, dài, thẳng, chắc, trắng ngần dưới trên
Tựa như hạt lựusoi đèn
Đủ cái nắm quyền tướng khanh
Răng cao, miệng nhỏ: điêu ngoa
Răng thấp môi kín: thương cha nhớ chồng
Răng thưa, da trắng: gái hay
Răng thưa, mặt sẫm: đổi thay chuyện tình
Rượu chung hành bốn ché cho ngon,
Bỏ vô cái xiểng, kiếm cái đòn mà khiêng…
Rắn rồng bắt chuột mái rui,
Em đừng than tới thở lui anh buồn.
Rồng nằm núi Chúa (*)
Hạc múa xa chừng
Tối trời quân tử dừng chân
Khuyên em ở lại giữ xuân má đào
Nơi nào chức trọng quyền cao
Tốt như tiên mặc kệ
Em đừng trao ân tình
* Núi Chúa ở ranh giới Phú Yên-Khánh Hòa cao ,m, đỉnh có mây phủ như rồng lượn
Rồng xanh lấy vợ Rồng vàng,
Kiện thấu Ngọc Hoàng, trời chửa cho mưa.
Rủ lên Đá Trắng ăn xoài,
Muốn ăn tương ngọt Thiên Thai thiếu gì.
Thuốc nào ngon bằng thuốc lá Lỗ Quy
Nhơn cùng tắc biến phải đi lượm tàn.
* Đá Trắng: Thuộc huyện Sông Cầu, xoài trái không to nhưng ngọt và thơm. Xoài Đá Trắng còn được gọi là “xoài tiến” vì xưa dùng để tiến vua. Lỗ Quy: Thuộc huyện Sơn Hòa, Phú Yên.
Rủ nhau đi bắt le le
Nấu canh bông bí, nấu chè đỗ đen…
Rựa hay chém chẳng qua rìu,
Em thương anh phải luỵ chìu mẹ cha.
Ra đi bước thẳng bước dùn,
Vì chưng thương bạn, bước ùn tới đây.
* Hoặc: Bởi vì chưng thương bạn, bước ùn tới đây.
Ra đi chưn bước dịu dàng
Mặt mày dớn dác tìm chàng lầu son.
Ra đi chân bước lọc lừa,
Cúi luồn trăng gió mới vừa tới đây.
Ra đi chân bước nhẹ nhàng
Là người hiếu khách, rõ ràng yên vui
Ra đi, anh chận giữa đường,
Mẹ thì quắc hú con đừng có đi.
Râu rìa, lông ngực đôi bên
Chẳng phường phản bạn, cũng tên nịnh thần
Rày đoạn nam tử bước vô,
Buộc dây lưng đỏ, khăn bô chàn hầu.
Ruộng gò dài lối đau lưng,
Không ai rước mối tôi gọi xưng bằng chồng.
Ngửa tay, khuyên hết nậu đồng,
Xăng quần rước mối, tui làm chồng được chưa?
* Nậu: Người
Ruộng rộc khô khan, ruộng gò nhẫy nước,
Bổn phận em nghèo, em than trước anh hay.
Sớm mơi ra đứng cột lều,
Áo quần rách rưới, lại nhiều cảnh điên…
Sợi chỉ đỏ ai khéo gầy phụng tím,
Sợi chỉ hường ai tiếp mối tơ.,
Thương anh, em rủng rải đợi chờ…
Sử kinh anh thuộc lảu nhiều pho,
Còn câu chính tượng tỏ cho em tường.
Sá gì một lỗ cẳng trâu,
Một con cá nhét, anh câu mấy cần?
Sáng trăng giã gạo giữa trời
Cám bay phân phất nhớ người phương xa.
Nhớ người da nuột má nà,
Có vợ chưa, nói thiệt kẻo ở xa em lầm.
Sáng trăng sáng tỏ, sáng dõ bìa thềm,
Bạn chào ai không biết, ta tìm ta vâng.
Sau gò có cái vườn tre,
Cách một đám đỗ, vườn mè băng ngang…
Sò huyết Bãi Ngao,
Thạch cao Đá Trắng
* Bãi Ngao, Đá Trắng : Thuộc Phú Yên.
Sông Bàn Thạch quanh co uốn khúc, (*)
Núi Đá Bia cao vút từng mây,
Non kia nước nọ còn đây,
Mà người non nước ngày nay phương nào ?
* Sông Bàn Thạch : Đài KM phát nguyên từ núi Hòn Dù, chảy ra cửa Đà Nông. Sách Đại Nam nhất thống chí (phần tỉnh Phú Yên) chép : “Sông có nhiều cá sấu’. Quảng Nam, Đà Nẵng
Sông Dinh ai bới, ai đào
Để cho ngọn nước chảy vào vòng cung ?
* Sông Dinh : Một nhánh nhỏ của sông Đà Rằng chảy quanh thị xã Tuy Hòa, nay sông đã bị bồi lấp.
Sông Kỳ Lộ vừa sâu vừa hẹp
Nước Kỳ Lộ vừ mát vừa trong
Thuyền anh bơi ngược dòng sông
Tìm em cho thoả tấm lòng nhớ thương
* Kỳ Lộ: một con sông ở tỉnh Phú Yên
Sông Kỳ Lộ vừa sâu, vừa hẹp,
Nước Kỳ Lộ vừa mát, vừa trong.
Thuyền anh bơi ngược dòng sông,
Gặp em cho thỏa tấm lòng nhớ thương.
* Sông Kỳ Lộ : Một đoạn của sõng Cái chảy qua vùng Kỳ Lộ, La Hai, huyện Đồng Xuân, Phú Yên.
Sóng kêu lách chách bên gành
Thấy anh chưa vợ, không đành ngó lơ.
Súng nẫu hay nẫu bắn lia lia,
Còn tui súng dở bắn lìa cội cây.
* Nẫu: Người ta, Bọn họ
Tướng đi cà niệng liểng xiểng suốt đời
Tướng đi chân bước hai hàng
Nàng thì rộng lượng, còn chàng tiểu tâm
Tướng lưỡi lợi hại phân rành
Dài mà mỏng, bẹp: dối quanh muôn lời
Bằng mà vừa lớn vừa dài
Thuộc hàng quý phái, lộc tài cao môn
Tưởng đâu hay chữ em nhờ
Ai hay anh xách vịt ngồi bờ câu lươn.
– Sách vở anh để trong rương
Anh đi xách vịt câu lươn thanh nhàn.
Tưởng anh sâu s
ắc giếng làng,
Ai dè cạn sợt như làn nước mương.
Tưởng phượng hoàng, tui lắp mũi tên me
Xem đi xét lại ai dè kênh kênh
Tẩm ngẩm tầm ngầm, đấm thầm chết voi
* Anh Ngữ: Dumb dogs are dangerous; OR: Beware of a silent dog and till water
Tật mày hay nói lâm râm,
Lại đây tao hẳn nói thầm mày nghe…
Tỉnh dài, huyện rộng, xã to
Nẫu lo việc nẫu, mình lo việc mình.
* Nẫu: Người ta, Bọn họ
Tốt tóc nặng đầu, tốt râu nặng cằm
Tới đây hò hát cho vui,
Đâu phải đám giỗ, đợi tui đi mời?
Tới đây không hát thì hò,
Sao đứng bợ cột, giả đò làm thinh?
Tới (bi) giờ còn ngủ chì ì,
Mặt trời đã mọc, chưa đi ra cày?…
Tới khuya bỡ ngỡ,
Tui mắc cỡ quá chừng,
Tưởng như bướm bám bìa rừng cheo leo.
Tới lui hoài, nàng mang tiếng hổ,
Ra vô hoài, ra chỗ dần lân,
Đôi ta thủng thẳng thương lần,
Tới lui thăm viếng có phần thì thôi.
Tức mình cũng cứ dửng dưng,
Chớ đừng liếc xéo, cũng đừng cười khinh.
Từ khi chim phụng xa loan,
Đêm nằm vòi või chẳng an giấc nồng.
Ta đương mê ngủ mơ màng
Tai nghe cha mắng hò khoan sự gì?
Giờ còn ngủ nướng li bì,
Mặt trời đã mọc chưa đi ra cày.
Tai dài như Phật, quả thật sống lâu
Tai nghe chạo rạo xóm bầu,
Nói anh hỏi vợ nhà giàu con ai?
Tai nghe chàng đặng chỗ tri âm
Sao chàng bặt tiếng, không thăm viếng nàng?
Tai nghe họ đã viếng nhà,
Chờ ngày đi hỏi, vậy mà có không?
Tai nghe mõ réo đi xâu.
Lưng đưng hai vợ, gạo đâu vô nừng?
Tai nghe trống xổ bỉ bàng,
Một ngày xa bạn, ăn vàng không ngon.
Tai quặp về trước bủm tròn
Không cháu tể tướng cũng con anh tài
Tang cha chế mẹ làm sao?
Nói cho em biết âm hao em tường?
Tánh tui rị rị muốn làm chị hiền thê
Không thèm làm tiểu thiếp, chúng chê bạn cười
Tao biểu mày quảy, mày không quảy,
Mày để tao quảy về cái đất Phú Ơn.
Tao tưởng mày khổng sợ tao,
(Tao) chặt đầu máu chảy lộn nhào mày ra…
Tàu lui, ốc thổi vang dầy,
Anh xa em bởi quan thầy đổi đi.
Tay cầm chiếc chiếu cổ trải chỗ Gành Bà
Chàng ngồi một góc, thiếp ngồi một góc
Chàng than thiếp khóc, đau dạ xót lòng
Lời thề giữa chốn Gành Ông
Chết đi thì mất, sống em không bỏ chàng
* Gành Bà và Gành Ông: Thuộc huyện Tuy An, Phú Yên
Tay cầm nhắm lạt bẻ cò,
Thương em cho lắm cũng giả đò ngó lơ.
Tay cầm rựa lụt chém mụt măng vòi,
Để anh coi phụ mẫu em đòi bao nhiêu?
Tay cầm rựa quéo khều măng,
Em xa anh chưa kịp nói năng đôi lời.
Tay cầm trái bắp vô lùi,
Chưn đi, mồm cạp, quăng cùi ra sân…
Tay chiêu, móc niêu chả rồi
Tay dài, chân ngắn là vui
Chân cao tay ngắn: ngậm ngùi buồn thương
Tây Nguyên dốc đứng cao mù,
Về nhà dốc thấp, chổng khu mà trèo…
Thương ai chăm bẳm đám bèo,
Cắc ca cắc củm cho mèo nẫu ăn.
* Nẫu: Người ta, Bọn họ
Thương chồng phải luỵ mụ gia,
Chớ tui với bã có bà con chi!
Thương chàng từng lóng ngón tay,
Chẳng qua duyên nợ, ông trời rày biểu thương
Thương chi cho uổng tấm tình,
Nẫu về xứ nẫu bỏ mình bơ vơ.
* Nẫu: Người ta, Bọn họ
Thương em lấy cẳng anh quèo,
Phụ mẫu em thấy hỏi, nói hai bạn nghèo đọ chân.
Thương em thuở áo mới may,
Bây giờ áo rách thay tay vá quàng.
* Dị bản: Bây giờ áo đã thay tay vá quàng
Thương em, thương cả cuộc đời,
Đừng thương lỡ cỡ vậy thời tội em…
Thấp lùn thì dễ chun rào,
Qua sông nước lớn, chưn cao lợi nhiều…
Thấy anh, em muốn gá duyên thầm
Sợ e gáo một, múc lầm chĩnh đôi
Thằng con đừng nói ngặc ngờ,
Mày nghe lời vợ, nói khờ nói điên.
Thởi lởi, trời gởi của cho
Cúm cúm, co co, trời gò của lại
Thử chơi một chút ai hay,
Chuyện này há dễ tỏ bày hản hiu…
Thực tốc hành trì: quý nhân chi tướng
Ăn mau, đi chậm là quý tướng
Thà rằng chiếu lác có đôi,
Còn hơn chăn gối lẻ loi một mình.
Thân ai khổ như anh kia,
Ngày đi cuốc bãi, tối dìa nằm suông?
Thân em như cục cứt trôi sông,
Thân anh như con chó lác ngồi trông trên bờ.
Thân em như cây thầu đâu,
Ngoài tươi trong héo, giữa sầu tương tư.
Thân em như lọn nhang trầm,
Không cha, không mẹ, một phần cậy anh.
Than rằng chồng thấp vợ cao
Qua sông nước lớn, cõng tao quớ mày.
Tháng mắc tuổi đôi ta,
Tháng , tháng chạp mắc tuổi mẹ với cha hết rồi.
Tháng ba củ sắn củ nần
Cái bụng bào bọt, bần thần đôi chân.
Thiếp đưa chàng lên đường thượng lộ,
Trời hỡi trời, mới ngộ sao dong?…
Thiếp thương chàng không biết mấy lần,
Chàng đừng nghe lời hoà dụ rẽ phân tội nàng.
Thiếu chi con gái chốn này,
Lại dê con Thể ăn mày Phú nhiêu?…
Thiệt như chàng đúng mực danh nhu
Sương sa mấy cõi, dặm cù mấy nơi
Thò tay bứt ngọn rau ngò,
Thương anh thấu chết giả đò ngó lơ.
Thò tay ngắt ngọn dưa leo,
Để anh lo cưới, đững có theo nẫu cười.
* Nẫu: Người ta, Bọn họ
Thò tay ngắt ngọn rau ngò,
Thấy em còn nhỏ chận bò anh thương.
– Thò tay ngắt ngọn mướp hương,
Bò em em chận, anh thương (cái) nỗi gì?
Thôi thôi đừng nói nữa nà
Trâu băng ruộng sạ dấu mà còn đây.
Thôi thôi chịu hắt đi nà,
Trâu băng ruộng sạ dấu mà còn đây.
Thôi thôi, vụt đuốc đi thầm
Còn duyên chi nữa, mua trầm bán hương?
* Vụt = Quăng, ném.
Thông minh, học giỏi, anh tài
Ngón (tay) nhỏ mà dài tựa đọt hành non
Thuốc Bắc chén rưỡi có chừng,
Nhẩn cay cũng uống, chàng đừng nhả ra…
Thuốc nào ngon bằng thuốc lá Lỗ Quy
Nhơn cùng tắc biến phải đi lượm tàn.
* Lỗ Quy : Thuộc huyện Sơn Hòa, Phú Yên.
Thung bung chín đỏ hàng rào
Anh dìa dưới đó chừng nào anh lên?
Thuyền xuôi, anh bỏ sang sào,
Anh dìa ở trỏng chừng nào anh ra?…
Tiếc công anh dậm đất trét nhà,
Trèo non đốn củi, vợ anh đà về ai?
Tiếc công anh lên đảnh xuống đèo,
Cầm sào thọc chuột cho mèo nẫu ăn!
* Nẫu: Người ta, Bọn họ
Tiếc công anh vun vén cây mè
Mè chưa ra trái, con chim què đậu lên.
* Vun vén = Chăm sóc
Ti
ếc công bỏ mẳn nuôi cu,
Cu ăn cu lớn cu gù cu đi.
Tiếng đồn Bình Định tốt nhà
Phú Yên tốt ruộng, Khánh Hòa tốt trâu.
* Ở Bình Định có loại nhà “lá mái” tường gạch hay đất sét nện rất dày, mái nhà cũng có một lớp đất sét nện cách nhiệt, do đó mùa nắng ở rất mát, mùa đông ấm áp, lại tránh được hỏa hoạn.
Tiếng đồn cặp mắt em lanh
Ai nẫu không ngó, chớ anh ngó hoài.
* Nẫu: Người ta, Bọn họ
Tiếng đồn chợ Xổm nhiều khoai
Đất đỏ nhiều bắp, La Hai nhiều đường
Tiếng đồn cha mẹ anh hiền,
Cắn cơm không bể, cắn đồng tiền bể hai.
Tiếng đồn con gái Phú Yên
Con trai Bình Thuận đi cưới một thiên cá mòi
Tiếng đồn ông xã Hà Lờ
Hai vai quảy vịt dạo lờ bắt cua
* Hà Lờ : Thuộc Hiếu Xương, Phú Yên, Vịt: Một lọai giỏ tre đan theo hình con vịt, dùng để đựng tôm cua, cá đồng bào địa phương gọi là cái vịt
Tiếng ai than khóc nỉ non
Phải vợ chú lính trèo hòn Cù Mông ?
Xa xa em đứng em trông,
Thấy đàn lính mộ, hỏi chồng em đâu ?
Tiếng nhỏ mà lại không vang
Thêm mắt lờ đờ, tuổi thọ khó lâu
Tiếng nói rít qua kẽ răng
Là người nham hiểm sánh bằng hổ lang
Tre già giòn lạt khó quai
Thương anh rồi lại thương ai sao đành?
Trên kèo nhà con sẻ rượng ngang,
Làm ăn khấm khá, anh xoay ra tô nền…
Vách thành cao lắm, khó dòm,
Nhớ em, anh khóc đỏ lòm con ngươi.
Vai mang khăn gói nhuộm dà,
Đưa anh xuống thuỷ, ruột rà héo don.
Tiểu nhơn quen thói phô bày
Những điều xấu của kẻ này người kia
Tiêm trầu về giắt mái rui,
Cúi đầu lạy mẹ làm sui cho gần.
Tóc đen, da trắng mỹ miều
Má mà có ngấn, nuông chiều mẹ cha
Tóc đen, thưa, rộng mà dài
Vuông tròn sắc mặt là trai anh hùng
Tóc mai dài xuống mang tai
Là người khó tánh ít ai vừa lòng
Tóc thưa, dài, mướt, trắng da
Ở hàng lầu các, dung hòa phu nhân
Tôi tới đây sở cậy có dì
Dì đem lòng giận, tôi thì cậy ai?
Trăm lần khôn, một lần ngu cũng chết
Trăng lên trăng sáng,
Trăng mắc mụt mây áng trăng mờ…
Trước anh chào áo trắng
Hình dung yểu điệu hội xi phết vàng
Chào người mặc áo vá vàng
Như dĩa bát thảo, như hàng bông chanh.
Trả ơn cái cối cái chày,
Còn gì cục kịch đêm này đêm kia.
Trả ơn cái trẹt cái nia,
Còn gì sàng sảy đêm khuya một mình.
Trần ai gặp lúc cơ hàn
Rổ đan lông mốt ra chợ làng đổi khoai
Trống ai dám đánh thì thùng,
Bậu không ưng ai dám giở mùng chun vô?
Trồng cây cũng muốn cây xanh,
Kết đôi hổng đặng để thành phu thê.
* Hổng đặng: Không được
Trời ơi, nắng miết không mưa,
Lan khô, huệ héo thảm chưa quớ trời?
* Quớ: Bớ; Nhặt, lấy được
Trời mưa lộp bộp lá dừa,
Bợp anh ba bợp cho anh chừa đi đêm.
* Bợp: Tát tay
Trời sao hực hở chói lòa
Mình sao hui hút vào ra có một mình.
* Hực hở: Lộng lẫy, rực rỡ; Hui hút: Côi cút, hiu quạnh
Trời sinh chi chuyện phản tai
Em đây là vợ không biết ai là chồng?
Phản tai: huyện nghịch lý khó chấp nhận
Trực nhìn mở mắt trông ra
Nàng đâu không thấy, úi chu cha là buồn
Trách ai đem vải trải rương
Để cho em chịu tư lương một mình.
Trách ai rọc giấy bỏ bìa,
Hồi thương thương ngộ, hồi lìa lìa xa
* Dị bản: Khi thương thương vội, khi lìa lìa xa.
Trai anh hùng sánh dí thuyền quyên,
Tỷ như mai điểu gầy duyên bá tòng.
Trai cày chưa vợ chưa con,
Cơm nguội sáng không có,
Biểu (bảo) cày bừa ngon được à?.
Trai mà có cặp răng nanh
Gan dạ , chịu đựng, khôn lanh đủ điều
Trai mà nói giọng đàn bà
Tánh tình nhu nhược, còn là long đong
Trái tai đít sát vào da
Đàn ông khó mến, đàn bà khó ưa
Trai thâm môi gái lồi mắt
Trán cao , mặt lớn, mắt lươn
Cuộc đời cô độc, dẫu thường phấn son
Trán cao có cái đầu vuông
Văn chương, khoa bảng có nhường ai đâu
Trán cao, mắt sáng phân minh
Là người học rộng, công danh tuyệt vời
Trán cao, miệng rộng, mũi dài
Có khoa ăn nói, ít ai sánh bằng
Trên rừng thì hổ lang dưới làng thì mặt rỗ
Trên thu, dưới lại ba thu
Con mắt lúng liếng ba thu được nào
Trên trời có tấm lưới ba,
Em bố vi anh lại, đố anh ra ngõ nào?
* Bố Vi: Bủa vây, vây ráp
Trong đời trăm vật trăm ngon
Cơm no tức bụng, thấy môn cũng thèm.
Vũng Đông, Vũng Lấm, Vũng Chào,
Vũng La, Vũng Sứ, nơi nào cũng thương )
* Các địa danh trên thuộc tỉnh Khánh Hòa. Vũng La, Vũng Sứ Các địa danh trên thuộc huyện Sông Cầu, Phú Yên.
Vũng Dông, vũng Lắm, vũng Chào,
Vũng La, vũng Sứ,…vũng nào cũng thương
Vượn bồng con lên non cắn trái,
Em sớ lỡ đôi lời, rủng rải em phân.
Vật có thúi mới sinh dòi
Người có dạ xấu mới ăn lời dèm pha
Vật dĩ gì bã mía trôi sông,
Thò tay vào vớt, bỏ bông hoa lài.
Vắng mặt chàng không mấy nhiêu lâu
Bữa ăn nước mắt thấm bâu nhỏ dòn
Về nhà rác nhảy tới tai,
Có con heo nái nằm dài thở ra.
Vọng Phu thuộc dãy núi Bà
Phước Sơn chất ngất gọi là núi Ông (*)
Phải chi đây đó vợ chồng
Gánh tương tư khỏi nặng lòng nước non
* Có Bản khác: Tượng Sơn chất ngất gọi là Hòn ông., Vọng phu tục gọi Hòn Bà; Ở các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa đều có núi Vọng Phu thuộc các địa điểm khác nhau, nhưng truyền thuyết thì gần giống nhau. Núi Vọng Phu trong câu ca dao trên thuộc dãy Núi Bà, huyện Phù Cát, Bình Định.
Vớt em lên đã lạnh hơn đồng,
Tay anh bưng âu lửa, tay bồng cão than.
* Cão: Một loại rổ đan bằng nan tre, lớn hơn cái tô, Âu là cái chậu bằng đất nung
Vợ anh xấu máu hay ghen
Anh đừng lấp lửng chơi đèn hai tim.
Vừa đi vừa đánh đàng xa
Trông ra giống dáng bà Ba xóm Bầu.
Vừa đi vừa rên,
Là con dũ dĩ.
* Dũ dĩ: Dù dì, một loại chim cùng họ với cú nhưng lớn hơn, có tiếng kêu “thù thì, thù thì”
Vừa đi, vừa địt vừa ho,
Bộ chưn xấp xải, bộ giò giòn tan…
Vai mang nón sụp than thở bùng vành,
Khổ thời chịu khổ, em không đành rẽ phân…
Vai ngang, mặt lớn, tiếng to
Nhiều chồng mà lúc về già vẫ không
Xu xoa hai chén bốn đồng,
Ăn vô
mát dạ, cho chồng nó thương…
Xuống bầu bắt ốc hái rau
Bắn bông, kéo vải tôi giàu hơn cô
Vai u, thịt bắp, mồ hôi dầu
Lông nách một nạm, trà tàu một hơi
Giận thì em nói vậy, chứ dạ còn thương anh
Vàng thời thử lửa, thử than,
Chuông kêu thử tiếng, người ngoan thử lời.
* Dị bản: Vàng ròng thử lửa, thử than; * Hoặc: Vàng thì thử lửa, thử than, Đại Chúng
Vay tháng rồi lại vay ngày,
Hốt hết tiền hụi, hẹn rày hẹn mai.
Ví dầu anh thác xuống âm phủ,
Em cũng họa thần chủ em thờ,
Nơi nào tới nói, em cũng chờ mãn tang.
Em chờ anh trên lọng dưới tàng,
Treo đủ nghi khậu thì nàng nhẹ lo.
Ví dầu bậu tốt bậu xinh,
Bậu ra làm bé, phải rinh đòn ngồi.
* Bậu: Bạn, bạn thân, tiếng để chỉ người con trai, hay con gái, dùng làm đại từ nhân xưng ngôi hai
Ví dầu không bẻ đặng hoa,
Cũng nương theo bậu vào ra thăm chừng!
Ví dầu lên võng xuống diềm
Gặp em cũng hỏi nở niềm như xưa.
Ví dầu tình bậu muốn thôi )
Bậu gieo tiếng dữ cho rồi bậu ra
Bậu ra cho khỏi tay ta
Cái xương bậu nát, cái da bậu mòn
* Bậu: Bạn, bạn thân, tiếng để chỉ người con trai, hay con gái, dùng làm đại từ nhân xưng ngôi hai
Voi chéo ngà, đàn bà một mắt
Vói tay khêu ngọn đèn dầu,
Đèn chai có nghĩa, khêu bầu đèn chai.


Bạn đang xem bài viết Ca Dao Phú Yên-OY tại chuyên mục [ Danh ngôn ] trên website Nangngucnoisoi.org. Hãy chia sẻ nếu bài viết này hữu ích cho mọi người.