Sưu tầm những câu ca dao, dân ca, tục ngữ lưu hành ở Hà Tĩnh

các bạn ghi cho mình tầm 20 câu nha, cần gấp

Lưu ý: Bạn có thể gửi lời giải, đáp án khác nếu thấy chưa đúng!

Ai lên làng Quỷnh hái chè,
Hái dăm ba lá xuống khe ta ngồi!
Muốn ăn cơm trắng cá mè,
Thì lên làng Quỷnh hái chè với anh.
Muốn ăn cơm trắng cá rô,
Thì lên làng Quỷnh quẩy bồ cho anh!
Hà Nội ba mươi sáu phố phường
Hàng Gai, hàng Đường, hàng Muối trắng tinh.
Từ ngày ta phải lòng mình
Bác mẹ đi rình đã mấy mươi phen.
Làm quen chẳng được nên quen
Làm bạn mất bạn ai đền công cho
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Đường ra Hà Nội như tranh vẽ rồng
Ai về Hà nội ngược nước Hồng Hà
Buồm giong ba ngọn vui đà nên vui
Đường về xứ Lạng mù xa..
Có về Hà nội với ta thì về
Trên trời có đám mây xanh,
Ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng,
Ai đi trẩy hội chùa Hương
Làm ơn gặp khách thập phương hỏi giùm
Mớ rau sắng, quả mơ non
Mơ chua sắng ngọt, biết còn thương chăng?
Ngày xuân cái én xôn xao
Con công cái bán ra vào chùa Hương.
Chim đón lối, vượn đưa đường
Nam mô đức Phật bốn phương chùa này.
Sản vật
Ra đi anh nhớ Nghệ An,
Nhớ Thanh Chương ngon nhút, nhớ Nam đàn thơm tương.
“Yến sào Vinh Sơn
Cửu khổng cửa Ròn
Nam sâm Bố Trạch
Cua gạch Quảng Khê
Sò nghêu quán Hàn…
Rượu dâu Thuận Lý…”
Ước gì anh lấy được nàng,
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây.
Xây dọc rồi lại xây ngang,
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.
Đừng thủy thì tiện thuyền bè
Đường bộ cứ bến Bồ Đề mà sang








Ai về Hà Tĩnh thì về
Mặc lục chợ Hạ, uống chè Hương Sơn.
Anh đi anh nhớ quê nhà,
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dằm tương.
Nhớ ai dãi nắng dầm sương,
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao!
Những phong tục tập quán của tổ tiên; và một trong những “phong tục” đó được diễn tả qua những câu ca dao đơn sơ mộc mạc:
Công anh làm rể Chương Đài,
Một năm ăn hết mười hai vại cà.
Giếng đâu thì dắt anh ra,
Kẻo anh chết khát với cà nhà em!
Thú thật với các bạn, tôi không nhìn thấy tận mắt cảnh “làm rể” ở Bình Giả, nhưng tôi biết rất rõ “vại cà” vì hầu như nhà nào ở Bình Giả cũng có, không nhiều thì ít… Tục lệ “cổ truyền” tôi được chứng kiến nhiều nhất ở Bình Giả là “hội nước chát”, còn gọi là nước chè xanh. Những bậc cha anh của tôi ở Bình Giả chiều chiều thường “mời” nhau quây quần bên ly “nước chát” kể chuyện thế thái nhân tình, “nói trạng” và ngay cả quyết định những việc quan trọng như hôn nhân con cái, việc xóm làng…
Chè ngon nước chát xin mời,
Nước non, non nước nghĩa người khó quên.
Ngoài những câu ca dao truyền khẩu, Nghệ An – Hà Tĩnh còn có những bài “hát giặm” do một số nho sĩ sáng tác, được bà con ưa thích và phổ biến rộng rãi. “Hát giặm” thường có tính cách trình diễn, do nam nữ đối đáp, hoặc hai ba người “ngâm” lên để kể một giai thoại, hay một sự việc vừa xảy ra, hoặc kể một sự tích gì có tình tiết, nội dung và hình thức đều được trau chuốt kỹ lưỡng. Ví dụ:
Trai:
Tiết thanh nhàn thong thả
Muốn thăm hỏi vài câu
Cuốc thánh thót kêu sầu
Gió phảng phất mùa sâu
Nhớ trong sách đã lâu:
Chuyện “Tư mã phượng cầu”
Thương thì mũi tìm trâu
Trâu đâu tìm chạc mũi (chạc mũi = giây thừng)
Gái:
Trời mở rộng phong quang
Giã ơn trời mở rộng phong quang
Em đánh tiếng đưa sang
Đêm tàn canh vò võ
Tay em cầm con bấc đỏ
Mong bỏ đĩa dầu đầy
Mời bạn ở lại đây
Đôi ta giở lời rày
Tình đó với nghĩa đây
Trai:
Giống như đọi nác đầy (đọi nác = chén nước)
Bưng nhẩn nhẩn trên tay
Không khuy sơ một hột
Gió nỏ triềng một hột
Công đôi ta thề thốt
Kể đã mấy niên rồi
Lòng đã quyết lứa đôi
Ngãi đã quyết thề bồi
Nhất ngôn nói hẳn lời
Đừng bốn chốn ba nơi
Đừng trăng gió chào mời
Trăng nhiều trăng rạng rỡ
Trăng nhiều đèn rạng rỡ
Gái:
Em đã có chồng rồi
Em đã có lứa rồi
Vung úp đã vừa nồi
Đũa ghép đã thành đôi
Bạn đừng có ỡm ờ với tôi!
Tôi lấy chân khỏa lại
Tôi lấy bàn khỏa lại
Trai:
Têm một quả trầu không
Bỏ vô hộp con rồng
Đi băng nội băng đồng
Qua năm bảy khúc sông
Qua chín mười đỗi đồng
Nghe tin em đã có chồng
Anh quăng lắc vô bụi
Bạn gạt tùa vô bụi.
Có những bài hát giặm rất dài, kể chi ly tình tiết “một chuyện tình”:
Anh thương em một tháng hai kỳ
Dồn đi tính lại, cũng như mười ngày
Năm rộn mà chầy
Có hai mươi bốn miện (miện = kỳ)
Xuân qua rồi hè đến
Thu đã muộn, đông rồi
Nhớ bạn cũ chưa nguôi,
Sang lập xuân vũ thuỷ
Đêm em nằm em nghĩ
Nghĩ kinh trập, xuân phân,
Lòng tưởng sự ái ân
Sang thanh minh, cốc vũ
Đêm dêm nằm nỏ ngủ
Nhớ bạn mãi thường thường
Tiết lập hạ nhớ thương
Bước sang tuần tiểu mãn
Trông ra ngoài chán chán
Tiết mang hiện lại gần
Người đập đất, gánh phân
Để mùa màng gặt hái
Anh thương em mãi mãi
Sang hạ chí tiết hè
Em nghe tiếng sầu ve
Em buồn trong gia sự
Bạn buồn trong gia sự
***
Tiết tiểu thử, đại thử
Trời nắng sốt lắm thay!
Ra ngồi tựa cột cây
Anh với em than thở
Bạn với mình than thở
***
Tiết lập thu, xử thử
Ai diều sáo mặc ai
Vàng lác đác giếng tây
Ta thương người bạn cộ (cộ = cũ)
Nhớ mãi người bạn cộ
***
Vừa đến tiết bạch lộ
Bầy chim trắng bay sang
Cây heo hắt lá vàng
Sang thu phân hàn lộ.
***
Đêm em nằm, em chộ (chộ = thấy)
Tiết sương giáng lại kề
Trông bạn cũ ta về
Sang lập đông giá rét
Tiết tiểu tuyết, đại tuyết
Trời giá rét lắm thay
Sang đông chí cấy cày
Dạ bồi hồi nhớ bạn
Tiết tiểu hàn chưa dạn
Đã bước sang đại hàn
Dạ tưởng nhớ người ngoan
Vừa năm cùng tháng tận
Vừa cuối mùa cuối tận.
***
Phận lại ngồi trách phận
Phận nỏ giám trách phận
Anh thương em từ tháng giêng đến tháng chạp!
Đọc qua những câu “hát giặm” trên đây tôi thật lòng “khâm phục” trí nhớ của ông bà tổ tiên… Tôi cầm giấy đọc vẫn còn “trúc trắc”, nhưng ông bà cha mẹ tôi, nhiều người không biết chữ, nhưng đã nhớ thuộc lòng và ngâm nga theo giọng hò điệu hát rất hay, thật xứng đáng là giòng dõi “địa linh nhân kiệt”. Là những người “sinh sau đẻ muộn”, cá nhân tôi và nhiều bạn trẻ chỉ thích những bài “hát dạo” kể chuyện trai gái hò hẹn, “chọc chắc”, nhất là vào những dịp cuối năm, sau khi thu hoạch mùa màng, chuẩn bị mừng năm mới:
Bấy lâu thức nhắp mơ màng,
Bên rèm tiếng gió, đầu giường bóng trăng.
Bấy lâu nghe hết tiếng nàng,
Bên anh nức tiếng đồn vang đã lừng,
Nghe tin anh cũng vội mừng,
Vậy nên chẳng quản suối rừng anh sang.
Bấy lâu anh mức chi nhà,
Để em dệt gấm thêu hoa thêm sầu!
Đồn rằng cá uốn thân vây,
Đồn em hay hát, hát hay anh tìm.
Chốn này vui vẻ, tưng bừng,
Hạc nghe tiếng phượng xa chừng tới nơi.
Đêm khuya trời tạnh sương im,
Tai nghe tiếng nhạc, chàng Kim tới gần.
Dừng xa, khoan kéo, ơi phường!
Hình như có khách viễn phương tới nhà.
Đi qua nghe tiếng em reo,
Nghe xa em kéo, muốn đeo em về.
Đi ngang trước cửa nàng Kiều,
Dừng chân đứng lại, dặt dìu đôi câu.
Đi ngang thấy búp hoa đào,
Muốn vào mà bẻ, sợ bờ rào lắm gai!
Đồn đây là chốn Đào Nguyên,
Trăng thanh gió mát, cắm thuyền dạo chơi.
Lạ lùng anh mới tới đây,
Thấy hoa liền hái, biết cây ai trồng.
Đến đây vàng cũng như son,
Ai ai thời cũng như con một nhà.
Hát mừng, hát chào:
Khi nháy mắt, khi nhện sa
Khi chuột rích trong nhà
Khi khách kêu ngoài ngõ
Tay em đưa go đủng đỉnh
Tay em chìa khoá động đào
Bước năm lần cửa, ra chào bạn quen
Mừng rằng bạn đến chơi nhà
Cam lòng thục nữ gọi là trao tay.
Hát hỏi:
Em có chồng rồi, em nói rằng chưa
Tội riêng em đó, nỏ lừa được anh
Em chưa có chồng, em mới đến đây
Chồng rồi chiếu trải, màn vây ở nhà
Hát đố và hát đối:
Anh về chẻ lạt bó tro
Rán sành ra mỡ, em cho làm chồng.
Em về đục núi lòn qua,
Vắt (cổ) chày ra nước, thì ta làm chồng
Trai thanh xuân ngồi hàng thuốc bắc,
Gái đông sàng cảm bệnh l
ầu tây
Hai ta tình nặng nghĩa dày,
Đối ra đáp được, lúc này tính sao?
Đến đây hỏi khác tương phùng
Chim chi một cánh bay cùng nước non?
Tương phùng nhắn với tương tri,
Lá buồm một cánh bay đi khắp trời
Lá gì không nhánh, không ngành?
Lá gì chỉ có tay mình trao tay?
Lá thư không nhánh, không ngành,
Lá thư chỉ có tay mình trao tay.
Người Kim Mã cưỡi con ngựa vàng
Đất Phù Long rồng nổi, thì chàng đối chi?
Người Thanh Thuỷ gặp khách nước trong
Hoành sơn ngang núi, đã thoả lòng em chưa?
Nghe anh bôn tẩu bấy lâu
Nghệ An có mấy chiếc cầu hỡi anh?
Nghệ An có ba mươi sáu chiếc cầu
Phồn hoa đi lại bốn cầu mà thôi
Cầu danh, cầu lợi, cầu tài
Cầu cho đây đó làm hai giao hoà
Nhớ em nhất nhật một ngày
Đêm tơ tưởng dạ, làng rày nhớ trông
Chờ em nửa tháng ni rồi
Ôm đờn bán nguyệt, dựa ngồi cung trăng
Nghe tin anh giỏi, anh tài
Đào tiên một cõi Thiên Thai ai trồng?
Thiên thai là của nàng Kiều
Riêng chàng Kim Trọng sớm chiều vào ra

Ai lên làng Quỷnh hái chè,
Hái dăm ba lá xuống khe ta ngồi!
Muốn ăn cơm trắng cá mè,
Thì lên làng Quỷnh hái chè với anh.
Muốn ăn cơm trắng cá rô,
Thì lên làng Quỷnh quẩy bồ cho anh!
Hà Nội ba mươi sáu phố phường
Hàng Gai, hàng Đường, hàng Muối trắng tinh.
Từ ngày ta phải lòng mình
Bác mẹ đi rình đã mấy mươi phen.
Làm quen chẳng được nên quen
Làm bạn mất bạn ai đền công cho
Đường vô xứ Nghệ quanh quanh
Đường ra Hà Nội như tranh vẽ rồng
Ai về Hà nội ngược nước Hồng Hà
Buồm giong ba ngọn vui đà nên vui
Đường về xứ Lạng mù xa..
Có về Hà nội với ta thì về
Trên trời có đám mây xanh,
Ở giữa mây trắng, chung quanh mây vàng,
Ai đi trẩy hội chùa Hương
Làm ơn gặp khách thập phương hỏi giùm
Mớ rau sắng, quả mơ non
Mơ chua sắng ngọt, biết còn thương chăng?
Ngày xuân cái én xôn xao
Con công cái bán ra vào chùa Hương.
Chim đón lối, vượn đưa đường
Nam mô đức Phật bốn phương chùa này.
Sản vật
Ra đi anh nhớ Nghệ An,
Nhớ Thanh Chương ngon nhút, nhớ Nam đàn thơm tương.
“Yến sào Vinh Sơn
Cửu khổng cửa Ròn
Nam sâm Bố Trạch
Cua gạch Quảng Khê
Sò nghêu quán Hàn…
Rượu dâu Thuận Lý…”
Ước gì anh lấy được nàng,
Để anh mua gạch Bát Tràng về xây.
Xây dọc rồi lại xây ngang,
Xây hồ bán nguyệt cho nàng rửa chân.
Đừng thủy thì tiện thuyền bè
Đường bộ cứ bến Bồ Đề mà sang Anh đi anh nhớ quê nhà,
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dằm tương.
Nhớ ai dãi nắng dầm sương,
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao!
Những phong tục tập quán của tổ tiên; và một trong những “phong tục” đó được diễn tả qua những câu ca dao đơn sơ mộc mạc:
Công anh làm rể Chương Đài,
Một năm ăn hết mười hai vại cà.
Giếng đâu thì dắt anh ra,
Kẻo anh chết khát với cà nhà em!
Thú thật với các bạn, tôi không nhìn thấy tận mắt cảnh “làm rể” ở Bình Giả, nhưng tôi biết rất rõ “vại cà” vì hầu như nhà nào ở Bình Giả cũng có, không nhiều thì ít… Tục lệ “cổ truyền” tôi được chứng kiến nhiều nhất ở Bình Giả là “hội nước chát”, còn gọi là nước chè xanh. Những bậc cha anh của tôi ở Bình Giả chiều chiều thường “mời” nhau quây quần bên ly “nước chát” kể chuyện thế thái nhân tình, “nói trạng” và ngay cả quyết định những việc quan trọng như hôn nhân con cái, việc xóm làng…
Chè ngon nước chát xin mời,
Nước non, non nước nghĩa người khó quên.
Ngoài những câu ca dao truyền khẩu, Nghệ An – Hà Tĩnh còn có những bài “hát giặm” do một số nho sĩ sáng tác, được bà con ưa thích và phổ biến rộng rãi. “Hát giặm” thường có tính cách trình diễn, do nam nữ đối đáp, hoặc hai ba người “ngâm” lên để kể một giai thoại, hay một sự việc vừa xảy ra, hoặc kể một sự tích gì có tình tiết, nội dung và hình thức đều được trau chuốt kỹ lưỡng. Ví dụ:
Trai:
Tiết thanh nhàn thong thả
Muốn thăm hỏi vài câu
Cuốc thánh thót kêu sầu
Gió phảng phất mùa sâu
Nhớ trong sách đã lâu:
Chuyện “Tư mã phượng cầu”
Thương thì mũi tìm trâu
Trâu đâu tìm chạc mũi (chạc mũi = giây thừng)
Gái:
Trời mở rộng phong quang
Giã ơn trời mở rộng phong quang
Em đánh tiếng đưa sang
Đêm tàn canh vò võ
Tay em cầm con bấc đỏ
Mong bỏ đĩa dầu đầy
Mời bạn ở lại đây
Đôi ta giở lời rày
Tình đó với nghĩa đây
Trai:
Giống như đọi nác đầy (đọi nác = chén nước)
Bưng nhẩn nhẩn trên tay
Không khuy sơ một hột
Gió nỏ triềng một hột
Công đôi ta thề thốt
Kể đã mấy niên rồi
Lòng đã quyết lứa đôi
Ngãi đã quyết thề bồi
Nhất ngôn nói hẳn lời
Đừng bốn chốn ba nơi
Đừng trăng gió chào mời
Trăng nhiều trăng rạng rỡ
Trăng nhiều đèn rạng rỡ
Gái:
Em đã có chồng rồi
Em đã có lứa rồi
Vung úp đã vừa nồi
Đũa ghép đã thành đôi
Bạn đừng có ỡm ờ với tôi!
Tôi lấy chân khỏa lại
Tôi lấy bàn khỏa lại
Trai:
Têm một quả trầu không
Bỏ vô hộp con rồng
Đi băng nội băng đồng
Qua năm bảy khúc sông
Qua chín mười đỗi đồng
Nghe tin em đã có chồng
Anh quăng lắc vô bụi
Bạn gạt tùa vô bụi.
Có những bài hát giặm rất dài, kể chi ly tình tiết “một chuyện tình”:
Anh thương em một tháng hai kỳ
Dồn đi tính lại, cũng như mười ngày
Năm rộn mà chầy
Có hai mươi bốn miện (miện = kỳ)
Xuân qua rồi hè đến
Thu đã muộn, đông rồi
Nhớ bạn cũ chưa nguôi,
Sang lập xuân vũ thuỷ
Đêm em nằm em nghĩ
Nghĩ kinh trập, xuân phân,
Lòng tưởng sự ái ân
Sang thanh minh, cốc vũ
Đêm dêm nằm nỏ ngủ
Nhớ bạn mãi thường thường
Tiết lập hạ nhớ thương
Bước sang tuần tiểu mãn
Trông ra ngoài chán chán
Tiết mang hiện lại gần
Người đập đất, gánh phân
Để mùa màng gặt hái
Anh thương em mãi mãi
Sang hạ chí tiết hè
Em nghe tiếng sầu ve
Em buồn trong gia sự
Bạn buồn trong gia sự
***
Tiết tiểu thử, đại thử
Trời nắng sốt lắm thay!
Ra ngồi tựa cột cây
Anh với em than thở
Bạn với mình than thở
***
Tiết lập thu, xử thử
Ai diều sáo mặc ai
Vàng lác đác giếng tây
Ta thương người bạn cộ (cộ = cũ)
Nhớ mãi người bạn cộ
***
Vừa đến tiết bạch lộ
Bầy chim trắng bay sang
Cây heo hắt lá vàng
Sang thu phân hàn lộ.
***
Đêm em nằm, em chộ (chộ = thấy)
Tiết sương giáng lại kề
Trông bạn cũ ta về
Sang lập đông giá rét
Tiết tiểu tuyết, đại tuyết
Trời giá rét lắm thay
Sang đông chí cấy cày
Dạ bồi hồi nhớ bạn
Tiết tiểu hàn chưa dạn
Đã bước sang đại hàn
Dạ tưởng nhớ người ngoan
Vừa năm cùng tháng tận
Vừa cuối mùa cuối tận.
***
Phận lại ngồi trách phận
Phận nỏ giám trách phận
Anh thương em từ tháng giêng đến tháng chạp!
Đọc qua những câu “hát giặm” trên đây tôi thật lòng “khâm phục” trí nhớ của ông bà tổ tiên… Tôi cầm giấy đọc vẫn còn “trúc trắc”, nhưng ông bà cha mẹ tôi, nhiều người không biết chữ, nhưng đã nhớ thuộc lòng và ngâm nga theo giọng hò điệu hát rất hay, thật xứng đáng là giòng dõi “địa linh nhân kiệt”. Là những người “sinh sau đẻ muộn”, cá nhân tôi và nhiều bạn trẻ chỉ thích những bài “hát dạo” kể chuyện trai gái hò hẹn, “chọc chắc”, nhất là vào những dịp cuối năm, sau khi thu hoạch mùa màng, chuẩn bị mừng năm mới:
Bấy lâu thức nhắp mơ màng,
Bên rèm tiếng gió, đầu giường bóng trăng.
Bấy lâu nghe hết tiếng nàng,
Bên anh nức tiếng đồn vang đã lừng,
Nghe tin anh cũng vội mừng,
Vậy nên chẳng quản suối rừng anh sang.
Bấy lâu anh mức chi nhà,
Để em dệt gấm thêu hoa thêm sầu!
Đồn rằng cá uốn
thân vây,
Đồn em hay hát, hát hay anh tìm.
Chốn này vui vẻ, tưng bừng,
Hạc nghe tiếng phượng xa chừng tới nơi.
Đêm khuya trời tạnh sương im,
Tai nghe tiếng nhạc, chàng Kim tới gần.
Dừng xa, khoan kéo, ơi phường!
Hình như có khách viễn phương tới nhà.
Đi qua nghe tiếng em reo,
Nghe xa em kéo, muốn đeo em về.
Đi ngang trước cửa nàng Kiều,
Dừng chân đứng lại, dặt dìu đôi câu.
Đi ngang thấy búp hoa đào,
Muốn vào mà bẻ, sợ bờ rào lắm gai!
Đồn đây là chốn Đào Nguyên,
Trăng thanh gió mát, cắm thuyền dạo chơi.
Lạ lùng anh mới tới đây,
Thấy hoa liền hái, biết cây ai trồng.
Đến đây vàng cũng như son,
Ai ai thời cũng như con một nhà.
Hát mừng, hát chào:
Khi nháy mắt, khi nhện sa
Khi chuột rích trong nhà
Khi khách kêu ngoài ngõ
Tay em đưa go đủng đỉnh
Tay em chìa khoá động đào
Bước năm lần cửa, ra chào bạn quen
Mừng rằng bạn đến chơi nhà
Cam lòng thục nữ gọi là trao tay.
Hát hỏi:
Em có chồng rồi, em nói rằng chưa
Tội riêng em đó, nỏ lừa được anh
Em chưa có chồng, em mới đến đây
Chồng rồi chiếu trải, màn vây ở nhà
Hát đố và hát đối:
Anh về chẻ lạt bó tro
Rán sành ra mỡ, em cho làm chồng.
Em về đục núi lòn qua,
Vắt (cổ) chày ra nước, thì ta làm chồng
Trai thanh xuân ngồi hàng thuốc bắc,
Gái đông sàng cảm bệnh lầu tây
Hai ta tình nặng nghĩa dày,
Đối ra đáp được, lúc này tính sao?
Đến đây hỏi khác tương phùng
Chim chi một cánh bay cùng nước non?
Tương phùng nhắn với tương tri,
Lá buồm một cánh bay đi khắp trời
Lá gì không nhánh, không ngành?
Lá gì chỉ có tay mình trao tay?
Lá thư không nhánh, không ngành,
Lá thư chỉ có tay mình trao tay.
Người Kim Mã cưỡi con ngựa vàng
Đất Phù Long rồng nổi, thì chàng đối chi?
Người Thanh Thuỷ gặp khách nước trong
Hoành sơn ngang núi, đã thoả lòng em chưa?
Nghe anh bôn tẩu bấy lâu
Nghệ An có mấy chiếc cầu hỡi anh?
Nghệ An có ba mươi sáu chiếc cầu
Phồn hoa đi lại bốn cầu mà thôi
Cầu danh, cầu lợi, cầu tài
Cầu cho đây đó làm hai giao hoà
Nhớ em nhất nhật một ngày
Đêm tơ tưởng dạ, làng rày nhớ trông
Chờ em nửa tháng ni rồi
Ôm đờn bán nguyệt, dựa ngồi cung trăng
Nghe tin anh giỏi, anh tài
Đào tiên một cõi Thiên Thai ai trồng?
Thiên thai là của nàng Kiều
Riêng chàng Kim Trọng sớm chiều vào ra


Bạn đang xem bài viết Sưu tầm những câu ca dao, dân ca, tục ngữ lưu hành ở Hà Tĩnh tại chuyên mục [ Danh ngôn ] trên website Nangngucnoisoi.org. Hãy chia sẻ nếu bài viết này hữu ích cho mọi người.