TỔNG HỢP VỀ CA DAO

CA DAO NÓI VÈ CÁCH LÀM CON

– Chiều chiều xách giỏ hái rau,
Ngó lên mả mẹ ruột đau như dần

– Lấy chi trả thảo cho cha.
Trả ơn cho mẹ, con ra lấy chồng.








– Chiều chiều ra đứng ngõ sau.
Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.

– Cây xanh thì lá cũng xanh
Cha mẹ hiền lành để đức cho con.

Đói lòng ăn bát cháo môn
Để cơm nuôi mẹ cho tròn hiếu trung.

– Công cha, nghĩa mẹ nặng triều,
Ra công báo đáp ít nhiều phận con.

– Ở nuôi cha mẹ trọn niềm,
Bao giờ trăng khuyết lưỡi liềm hẵng hay

– Cau non khéo bổ cũng dầy,
Trầu têm cánh phượng để thầy ăn đêm.

– Ví dầu con phụng bay qua,
Mẹ nói con gà, cũng phải nghe theo.

– Một lòng thờ mẹ kính cha,
Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

– Cá không ăn muối cá ươn.
Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.

– Dạy con con chẳng nghe lời
Con nghe ông kễnh, đi đời nhà con

– Thờ cha, thờ mẹ hết lòng,
Ấy là chữ hiếu dạy trong luân thường.

CA DAO TỔNG HỢP

Duyên Anh

Nói về ca dao là nói về thơ lục bát. 95 phần trăm ca dao đều làm bằng thơ lục bát. Nếu ca dao là thân hình thì lục bát là dôi tay ôm chặt lấy. Gắn bó. Thơ lục bát rất dễ và rất khó làm. Người làm thơ lục bát hay thì đó là thơ lục bát. Người làm thơ lục bát dở thì đó là vè. Lục bát dễ biến thành vè lắm. Tôi đã nói Nguyễn Du đẩy thơ lục bát đến chỗ cao sang. Tôi nói thêm, Huy Cận đã đưa thơ lục bát vào cổ kính. Hai người làm thơ lục bát hay nhất. Sau hai người tài tử, chưa một thi sĩ nào làm thơ lục bát khiến ta khâm phục. Chúng ta đem Truyện Kiều ra so sánh với Lục Vân Tiên. Thấy ngay cái cao sang của Nguyễn Du và chất vè của Nguyễn đình Chiểu. Ca dao khác hẳn, chỉ là lục bát, không bao giờ là vè cả. Vì ca dao ngắn, 2 câu đến 10 câu là dài.

Ca dao nó trữ tình không thể tả nổi. Cái tình tự của nó ôm gọn dân tộc trong lòng. Từ tình yêu, nỗi khổ cực, niềm lo lắng đến giáo dục về sự thật thà, chế nhạo tật xấu, bài xích nhẹ nhàng kẻ ác, khôi hài thống trị…, đều có trong ca dao. Nó là Việt Nam đôn hậu, chất phác. Ngày xưa, chúng ta sinh ra và lớn lên bằng hơi thở của ca dao, chúng ta yêu nước chúng ta lắm. Ðiệu ru nào đã ru ta ngủ, vẫn không ngoài ca dao.

Cái ngủ mày ngủ cho lâu
Mẹ mày đi cấy đồng sâu chưa về

Ngày nay, chúng ta sinh ra và lớn lên bằng thứ khác. Không phải ca dao. Chúng ta bỏ quê hương – quê hương nông nghiệp – tìm chỗ thị thành mà ở, sống theo đuổi văn minh, vật chất tây phương. Chúng ta quên dần, quên hết ca dao. Một ngày nào đó, ca dao sẽ là cái gì kỳ cục mà chúng ta không thèm biết đến. Nếu chúng ta là nhà văn, nhà thi sĩ thì ca dao sẽ thành lạc hậu. cài trữ tình hôm qua đâu bằng cái trữ tình hôm nay. Chúng ta đọc tiểu thuyết Anh Mỹ, tiểu thuyết Pháp và, nếu cần, ta mượn cốt truyện của ngoại quốc làm cốt truyện của mình, có phải ta nghìn lần lãng mạn hơn ca dao vớ vẩn. Bây giờ, chúng ta mới, mới, mới và mới; chúng ta dứt khoát với quá khứ nó ràng buộc ta với quê hương ta. Tình tự dân tộc nó nhỏ bé quá, chúng ta tiến lên hàng vĩ đại tình tự với con người. Chúng ta định tình tự với thế giới, với con người bằng cái gì? Ở những cuốn tiểu thuyết gầy ốm, cóp nhặt tư tưởng của thiên hạ bừa bãi à? Cũng đuợc, loài người khó tính lắm, muốn đọc sách của chúng ta dịch sang tiếng nưóc ngoài thì họ mới hiểu chúng ta tình tự với họ với con người. Không, chúng ta không dại thế. Chúng ta chỉ thích mới, mới, mới và mới thôi. Chúng ta ra khỏi hàng ngũ những người lạc hậu và tình tự dân tộc. Mới mà không biết mới về đâu, đó là cuộc phiêu lưu không tưởng. Chúng ta chẳng hiểu đi tới bờ bến mới nào, có điều đường về quê hương đã bít lối.
Tôi không dám nhập vào cái chúng-ta-to-lớn quá. Vậy xin nhận cái tôi nhỏ bé, lạc hậu. Cái tôi nhỏ bé thách cái chúng-ta-to-lớn biểu diễn sáu câu ca dao “tán gái” sau đây:

và bốn câu ca dao lãng mạn:

Người nông dân lạy trời nắng mưa hòa thuận để cầy bừa cho dễ dàng. Công lao không lâu đâu. Cứ hy vọng “ngày nay nước bạc ngày sau cơm vàng.” Thi sĩ ca dao mới lãng mạn biết chừng nào: Nước bạc ngày nay, cơm vàng ngày sau. Tuyệt vời cách ví von như thế. Tôi nghĩ rằng thi sĩ bác học có nghĩ cả đời cũng không làm nổi câu thơ thứ tư của thi sĩ ca dao.

Nỗi đau khổ của nông dân kể lể đau lòng quá. Từ trong nỗi khổ vẫn bùng lên cơn mơ mộng “Trông cho chân cứng đá mềm” tôi dám cam đoan rằng, trên thế giới, không có đại thi hào nào mơ mộng như người nông dân Việt Nam. “Trông cho chân cứng đá mềm” là giòng suối mơ mộng của thi sĩ ca dao. Giòng suối róc rách chảy đến vô tận. Chúng-ta-to-lớn thường mô tả cảnh bắt quân dịch và đầy ra mãi vùng I chiến thuật phục vụ. Những cảnh ấy, chúng-ta-to-lớn phải viết nhiều trang. ca dao có bốn câu, thưà xúc động.

Người quân dịch trấn thủ phương xa. Chúng-ta-to lớn sẽ nằm một chỗ, tuởng tượng sự cô đơn và nỗi thống khổ của người lính quân dịch hết một cuốn. Ca dao có bảy câu, bát ngát cô đơn.

Những đại văn hào, đại thi hào không thèm nghe ca dao nữa. Tôi xin lỗi các vị, nói chuyện ca dao với người khác. Trong cuốn Anthologie de la littérature populaire du Viet Nam, tác giả đã dịch một số ca dao. Thử mời các bạn thưởng ngoạn ca dao… Pháp văn:

Tôi trích hai bài thôi và ở trong sách Anthologie de la littérature du Viet Nam không có bài ca dao tiếng Việt in kèm với bản dịch Pháp ngữ. Thành ra, người Việt Nam không hề biết ca dao mà đọc ca dao dịch sẽ chẳng thấy một hình ảnh nào lạ trong ca dao. Họ sẽ thất vọng ngay. Ngưòi ngoại quốc cũng thế. Nước ta ở một tình trạng nan giải. Quê hương nghèo nàn, nô lệ nhiều năm, nước nhỏ bé, ngôn ngữ ngoài phạm vi nước mình thì chả ai thèm biết tới, cho nên, những caí hay đẹp của ta như ca dao, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du … , dịch sang ngoại ngữ găp nghiều trở ngại. Mà chính ra ca dao không thể dịch, không nên dịch. Chắc rằng, cũng biết gặp khó khăn nên ông Hữu Ngọc cứ dịch, vì lòng yêu nước của ông thúc dục ông.
Tôi xin thành thực hoan nghênh ông, nhưng cũng thành thực phản đối khi ông nhắm ca dao vào mục đích tuyên truyền. 17 bài ca dao ông dịch giới thiệu “Ra đời vào cách mạng tháng 8-1945 và hai cuộc kháng chiến”. Ca dao là nghệ thuật. Nghệ thuật khác với kỹ thuật. Cách mạng tạo ra kỹ thuật cho con người, nhưng không thể, không bao giờ thể, tạo ra nghệ thuật cho con người. Trời cho con người nghệ thuật. Mọi sự rung động từ trái tim con người thoát ra. Cách mạng có làm cho con người rung động hay không, chứ không bắt con người phải rung động. Thi sĩ ca dao là nghệ sĩ đích thực. Nói thật đúng, thi sĩ ca dao của nguời là chính ca dao. Tôi sợ rằng ca dao “ra đời vào cách mạng tháng 8-1945 và hai cuộc kháng chiến” là ngụy ca dao.
Ca dao đã mất hút từ hơn 100 năm nay. Không phải các thi sĩ giết chết ca dao bằng những tập thơ ấn loát đẹp và phổ biến về tận làng mạc xa xôi. Chẳng ai giết nổi ca dao khi nó còn sống và cần sống. Chẳng ai cứu nổi ca dao khi nó muốn chết và cần chết. Ði một chu kỳ ngót bốn ngàn năm, ca dao đã sáng tác thừa thãi cho dân tộc sử dụng. Ðã đến lúc ca dao chất dứt bổn phận của nó. Văn học dân gian cũng thế. Cái tối cần thiết hôm nay là tìm tòi ca dao còn ẩn mặt tại nông thôn. Tôi chưa biết ca dao miền Trung. Tôi chưa biết ca dao miền Nam. Tôi chỉ biết rất ít ca dao miền Bắc. Bây giờ, nếu bỏ ra 5 năm, tung những người yêu ca dao đi khắp ba miền đất nước tìm kiếm ca dao, tôi tin rằng mỗi miền sẽ đóng góp cho đất nước hàng chục pho sách. Bấy giờ, chúng ta giàu có ca dao. Bấy giờ, không cần ai làm ca dao nữa. Tất cả đều có trong ca dao. Nói thêm nữa bằng thừa. Ca dao tự nó biến thành nền móng và khi nó cảm thấy nền móng vững chắc rồi, ta cứ việc xây văn chương bác học. Và tiểu thuyết, thi ca cứ vất lên cái nền móng đó. Hay thì ở lại. Dở thì ném đi. Ca dao đã biết trước chúng ta, đã ly biệt hơn 100 năm nay. Thế mà ông Hữu Ngọc và bà Françoise Corrèze cải táng ca dao, lôi xác chết bảo rằng “ra đời vào cách mạng tháng 8-1945 và hai cuộc kháng chiến”. Hai cuộc kháng chiến là chống Pháp giữ nước và chống Mỹ cứu nước.
Cứ dở hết ca dao ra mà coi, 1000 năm nô lệ giặc Tàu, có câu nào nói về Tàu, nói về quân xâm lăng tàn ác nhất loài người không? Bảo là 1000 năm ấy không có kháng chiến ư? Hai bà Trưng, bà Triệu, Lý Nam Ðế, Triệu Quang Phục, Mai Hắc Ðế, Bố Cái Ðại vương … đã khởi nghĩa đánh nòi Hán đấy. Sử gia Lê văn Hưu viết: “Trưng Trắc, Trưng Nhị là đàn bà nổi lên đánh lấy được 65 thành trì, lập quốc xưng vương dễ như trở bàn tay. Thế mà từ cuối đời nhà Triệu cho dến đời nhà Ngô hơn một nghìn năm, người mình cứ cúi đầu bó tay làm tôi tớ người Tàu, mà không biết xấu hổ với hai người đàn bà họ Trưng”! Ðến 100 năm nô lệ Tây, ca dao cũng chẳng viết câu nào về quân xâm lược dã man. Bảo là 100 năm ấy không có kháng chiến ư? Chuyện 100 Tây đô hộ, ai cũng biét có kháng chiến hay không kháng chiến.
Cách mạng tháng 8-1945, tôi được đọc bài ngụy ca dao như thế này:

Ông thi sĩ thượng thặng nào đã đẻ ra bài ngụy ca dao quyên vàng của dân chúng cả nước để mua súng cối say bắn tan giặc Pháp, nhưng không mua, mà đem cống Tiêu Văn để nó mang quân Tàu phù về Trung Hoa? Cách mạng tháng 8 biết ông thi sĩ ấy. Hồi kháng chiến chống Pháp, ở hậu phương, tôi đã thuộc những câu ngụy ca dao dưới đây:

Diễn tả cảnh dã man của Pháp, hai câu ngụy ca dao lên tiếng:

Trẻ thơ đã tội tình gì
Bị quăng vào lửa chỉ vì thực dân

Một bài nữa tả anh chồng trách vợ:

Tôi nói ca dao đã biệt ly hơn 100 năm, kể tư khi thời đại đánh mốc bằng hai câu chua xót:

Ngày xưa ta cũng có vua
Bây giờ mất nước, bonjour Toàn Quyền

Nhưng không có gì tuyệt đối cả, cũng còn vài người tương tư ca dao, thỉnh thoảng thốt lên lời cay đắng. Câu ca dao cay đắng dưới đây làm trong cách mạng tháng 8 đã 15 tuổi:

Ngày xưa roi điện thì còn
Ngày nay roi gạo hao mòn thịt xương

Cách mạng dùng chế độ gạo cai trị dân còn hơn thực dân dùng roi điện tra tấn con người. Tôi rất thích bốn câu ca dao làm trong cách mạng tháng 9, đuợc 3 tuổi.

Chỉ có hai câu ca dao là chính ca dao rơi rớt lại. Còn thì rặt ngụy ca dao. Ca dao bay bổng, bay cao, bay xa trên vùng trời Việt Nam. Ca dao nói về tình ái, nói về hạnh phúc, nói về đau khổ, nói về thương yêu, nói về cười cợt, nói về nhân nghĩa… Ca dao không nói về thù hận. Những kẻ cướp nước ta đã có người đuổi chúng và diệt chúng. Ca dao không để ý việc này. Ca dao sống tự nhiên với hạnh phúc và đau khổ. Ca dao cao thượng vô cùng, không oán ghét cả kẻ thù của mình. Ca dao không khen ngợi ai. Không ai có quyền hành bắt ca dao khen mình, Thỉnh thoảng, ca dao mới lên tiếng về thống trị đi quá đà.

Dân miền Bắc vốn không ưa gì Tự đức, cảm tình đã trao tặng Quang Trung rồi. Nghĩ đến chuyện đào mả Quang Trung, lấy đầu lâu đái vào, dân đã khinh bỉ Gia Long. Mà việc Tự Ðức cấm đàn bà mặc váy, ca dao chỉ nói nhẹ nhàng. Ca dao không tàn tệ với ai cả. “Ca dao mới” đem tên các lãnh tụ cộng sản ra chửi bới thậm tệ là ngụy ca dao. Ca dao không nịnh bợ người nào. Hai câu dưới đây thổi phồng ông Hồ Chí Minh:

Tháp Mưòi đep nhất bông sen
Nước Nam đẹp nhất có tên bác Hồ

cũng là ngụy ca dao. Vậy thì ca dao “ra đời vào cách mạng tháng 8-1945 và hai cuộc kháng chiến” là ngụy ca dao, phải chăng, thưa ông Hữu Ngọc và bà Françoise Corrèze!

Thưa bạn đọc, đủ rồi đấy, câu chuyện ca dao.

CA NGỢI LÒNG YÊU NƯỚC VÀ LÒNG KÍNH YÊU BÁC HỒ CỦA TOÀN DÂN

Đứng trên cầu Cấm em thề:
Chưa xong nhiệm vụ chưa về quê hương

*TÌNH KHÚC CA DAO

* Người Việt Nam chúng ta ai cũng có niềm tự hào: dân tộc chúng ta có hơn bốn ngàn năm văn hiến. Văn chương Việt Nam thật là phong phú, thi văn được phát xuất và phổ biến trong mọi tầng lớp xã hội. Những thi sĩ, văn sĩ thì mô phỏng theo văn thơ chữ Hán, mà sáng tác ra một số thi ca bằng chữ nôm. Những người bình dân đã đem tư tưởng, tâm tình của mình ra mà diễn tả bằng những câu văn vần, rồi truyền miệng với nhau. Đó chính là hình thức đầu tiên của Tục ngữ và Ca dao.

Trải qua năm tháng, các câu đó được thêm bớt, sửa chữa, gọt dũa để rồi tới ngày nay, chúng ta đã có một kho tàng vô cùng quí giá trong nền văn học bình dân.

Ca dao tục ngữ diễn tả nhiều khiá cạnh khác nhau của xã hội, bao gồm các đề tài hài hước, châm biếm, gia đình và trữ tình. Nhưng nhất là về trữ tình, đã được các thanh niên nam nữ thời xưa, dùng để tỏ tình, thổ lộ tình yêu thầm kín của mình với người mình yêu.

Người viết bài này không dám có hoài bảo tham khảo về Ca dao Tục ngữ. Trong phạm vi hạn hẹp của bài báo, người viết chỉ muốn cống hiến bạn đọc, một câu truyện tình thật thơ mộng của một đôi trai gái thời xưa, vừa lãng mạn, vừa chân thành, vừa mơ mộng, vừa thực tế. Họ đã dùng ca dao, tục ngữ để đối thọai trong lúc tâm tình với nhau:

Vào một buổi đẹp trời kia, có một chàng trai từ thôn Đông xuống thôn Đoài chơi, tình cờ chàng thấy một bóng hồng thấp thoáng bên bờ ao. Người đâu mà xinh đẹp lạ thường, chàng vừa hồi hộp vừa vui mừng, bèn đến gần làm quen. Để ca tụng nhan sắc mặn mà của nàng, chàng mở lời thật khéo léo:

Nàng nghe xong, trong lòng tuy cảm thấy vui mừng, nhưng giả đò quay đi làm ngơ như không hay biết gì. Chàng thong thả tiến đến gần và tiếp:

Nước trong ai chẳng muốn rửa chân,
Người xinh ai không muốn đến gần mà xem.

Nghe xong, nàng mỉm cười, mắt chớp nhẹ hỏi chàng:

Bắc thang lên hái hoa vàng
Vì sao thiếp đưọc găp chàng nơi đây!?

Qua cách nói chuyện khéo léo, duyên dáng của nàng, chàng bắt đầu cảm thấy, càng nói càng yêu, càng nhìn càng mến, nên chàng lại tiếp:

Hoa thơm trồng cạnh bờ rào,
Gió Nam, gió Bắc, gió nào cũng thơm.

Thấy chàng đẹp trai ăn nói lại hoạt bát, nên nàng cũng có cảm tình với chàng, nhưng muốn chàng phải chú ý đến mình nhiều hơn nàng thỏ thẻ nói:

Thân em như thể trái chanh,
Lắt léo trên cành, nhiều kẻ ước mơ.

Chàng nghe xong hốt hoảng, sợ đã có chàng trai nào lọt được vào mắt nhung của nàng nên vội hỏi:

Bây giờ mận mới hỏi đào,
Vườn hồng đã có nơi nào hay chưa!?

Hỏi xong chàng lại lo sợ, lỡ nàng lại cho biết một sự thật phũ phàng như :

Hoa thơm thơm nức cả rừng,
Ong chưa dám lượn, bướm đừng xôn xao.

Hoặc nàng lại thích:

Một mình ấm lạnh cho xong,
Hai nơi thêm nực, hai lòng thêm lo..

Nhưng may mắn thay, nàng cười thật duyên, nhìn chàng đắm đuối và trả lời:

Mận hỏi thì đào xin thưa,
Vườn hồng có lối nhưng chưa ai vào.

Được lời như cởi tấm lòng, tim chàng như muốn nhảy múa trong lồng ngực, chàng thầm nghĩ, thật là cơ hội ngàn vàng nên chàng không thể bỏ qua, chàng tiếp liền:

Bao giờ cho gạo bén sàng,
Cho trăng bén gió, cho nàng bén anh!?

Thấy nàng im lặng chưa nói gì, nên chàng tấn công thêm:

Lối tỏ tình của chàng vừa tế nhị, vừa kín đáo, nên nàng hết sức cảm động, muốn tỏ cho chàng biết nàng cũng đã có cảm tình với chàng, nàng khéo léo tiếp rằng:

Vì dây thiên lý ngang trời
Để cho tài tử gặp người giai nhân.

Nhưng rồi nàng lại lo sợ, biết đâu chàng đã có gia đình, hoặc tim chàng đã có người làm chủ, nên nàng vội hỏi chàng :

Anh đã có vợ con chưa!?
Mà anh ăn nói gió đưa ngọt ngào!?

Để cho nàng được yên lòng rằng, tim chàng vẫn còn khỏang trống để đợi nàng, nên chàng nhìn nàng thật đắm đuối và nói với nàng rằng:

Thế là đôi trai tài gái sắc, yêu nhau vì nết trong nhau vì tài, họ đã bắt đầu cảm thấy, gần thì yêu, xa thì nhớ, nên chàng mới cầm tay nàng nói rằng:

Mình về, mình nhớ ta chăng,
Ta về ta nhớ, hàm răng mình cười.
Nàng cũng âu yếm nhìn chàng mà nói rằng:
Ước gì sông hẹp một gang
Bắc cầu dải yếm cho chàng sang chơi.

Và:

Uớc gì anh hóa ra hoa,
Để em nâng lấy rồi mà cài khăn.

Tình yêu càng ngày càng đậm đà, bệnh tương tư của chàng càng ngày càng nặng thêm, nên chàng đã tâm sự với nàng:

Và một khi đã quá yêu, chàng thường lo lắng vẩn vơ:

Xin đừng ra dạ Bắc Nam,
Nhất nhật bất kiến như tam thu hề.

Nàng thấy chàng lo lắng bèn trấn an:

Đôi ta như ruợu với men
Đang say ngây ngất ai gièm cho xa.

Tình yêu càng đậm đà, nỗi nhớ nhung càng chồng chất, nhiều lúc chàng nghĩ:

Dù ai cho bạc cho vàng
Chẳng bằng trông thấy mặt nàng hôm nay.

Và nàng thì cũng mơ ước:

Dù ai cho nhẫn đeo tay
Chẳng bằng trông thấy chàng ngay bây giờ.

Tình yêu đã đến lúc chín mùi, chàng cần phải cưới nàng, không thể kéo dài thêm được nữa, nên một hôm chàng dọ ý nàng:

Đôi ta như cúc với khuy,
Nhu kim với chỉ may đi cho rồi.

Nàng cũng muốn tỏ cho chàng biết là nàng cũng mong muốn như thế:

Đôi ta như vợ với chồng
Chỉ hiềm một nỗi tơ hồng chưa se.

Nói là nói vậy, nhưng nàng vẫn còn một chút lo ngại cho tương lai:

Nghe anh được lúc bây giờ
Mai sau trứng nước con thơ ai nhìn!?

Chàng muốn tỏ cho nàng biết, chàng là người chung thủy, nên chàng tiếp:

Yêu em tâm trí hao mòn
Yêu em đến thác vẫn còn yêu em.

Chàng cũng muốn nàng phải hứa với chàng những lời gắn bó, vì thế nàng đã thề với chàng rằng:

Hai người đã quá yêu nhau đã quá hiểu nhau, nhưng nàng lại lo sợ gia đình chàng không chấp thuận vì vấn đề giai cấp, môn đăng hộ đối, nên nàng mới nói với chàng:

Thiếu chi hoa lý hoa lài,
Mà anh lại chuộng hoa khoai trái mùa.

Chàng vội vàng ngắt lời:

Thương nhau bất luận giầu nghèo.
Dù cho lên ải xuống đèo cũng cam.

Và để nàng thêm an tâm chàng tiếp:

Tình thương quán cũng như nhà,
Lều tranh có nghĩa hơn tòa ngói cao.

Nàng nghe chàng nói cũng tạm yên lòng, nên âu yếm nhìn chàng nói rằng:

Anh về thưa với mẹ thầy,
Có cho làm rể bên này hay không!?

Sau đó hai người về thưa với cha mẹ, hai bên đều được cha mẹ đồng ý, tác hợp nên họ sung sướng nói vói nhau:

Một thuyền một bến một giây,
Ngọt bùi ta hửơng đắng cay chịu cùng.

Và sau đó chẳng bao lâu thì hai người đã nên vợ nên chồng, họ sống thật hạnh phúc bên nhau. Tối tối người ta thấy chàng và nàng:

Sáng trăng trải chiếu đôi hàng,
Bên anh đọc sách bên nàng quay tơ./.

Ðặc Sản Miền Trung Qua Ca Dao-Tục Ngữ

-Dải đất miền trung nhỏ hẹp chạy dài từ Thanh Hóa cho đến Bình Thuận. Mỗi địa phương đều có phong tục, tập quán, thổ sản khác nhau và miếng ngon vật lạ chẳng bao giờ thiếu vắng khách sành ăn lựa chọn phẩm bình.

Xin giới thiệu cùng bạn đọc các loại đặc sản của miền trung đã được ông bà ta chọn lựa và truyền tụng qua nhiều thế hệ.

Nghệ An xưa nay nổi tiếng với cam Xã Ðoài, nhút Thanh Chương…

Ra đi anh nhớ Nghệ An
Nhớ Thanh Chương ngon nhút,
Nhớ Nam Ðàn thơm tương…

Vùng đầu nguồn Lam Giang còn có những đặc sản vùng cao như:

Tiếng đồn cá Mát sông Găng,
Dẻo thơm ba lá, ngon măng chợ Cồn.

Vào đến Quảng Bình thì có các loại sơn hào hải vị, những món thượng thừa trong khoa ẩm thực:

Ðến Thừa Thiên – Huế bạn sẽ được thưởng thức các loại trái cây ngọt ngào, thơm ngon:

Vào xứ Quảng được thưởng thức tiếp các món:

Trái bòn bon hay còn gọi là trái Nam trân rất quý hiếm, ngày xưa thuộc loại tiến kinh, được nhắc nhở qua câu hò tâm tình ý nhị:

Ðất Quảng nổi tiếng với món don, ngon nhất là don Vạn Tường, bởi vậy mới có câu ca:

Cô gái làng Son,
Không bằng tô don Vạn Tường…

Xứ Quảng còn là đất mía đường:

Quảng Ngãi còn nhiều đặc sản nổi tiếng khác:

Mứt gừng Ðức Phổ
Bánh nổ Ðức Thành
Ðậu xanh Sơn Tịnh…

Hoặc:

Rời Quảng Ngãi vào Bình Ðịnh quê hương của dừa:

Công đâu công uổng công thừa
Công đâu gánh nước tưới dừa Tam Quan

Hoặc:

Muốn ăn bánh ít lá gai
Lấy chồng Bình Ðịnh sợ dài đường đi…

Bình Ðịnh còn nổi tiếng một loại trái cây rừng, mà thuở xưa dùng để tiến kinh. Ðó là trái chà viên:

Từ Bình Ðịnh vượt đèo Cù Mông vào đất Phú Yên, nơi nổi tiếng có xoài ngon Ðá trắng:

Xoài đá trắng
Sắn phường lụa…

Phú Yên cũng là xứ đường mía, nhất là vùng La Hai, Ðồng Bò:

Tiếng đồn chợ xổm nhiều khoai
Ðất đỏ nhiều bắp La Hai nhiều đường

Nổi tiếng nhất phải nói đến sò huyết ở đầm Ô Loan, huyện Tuy An và cước cá ở thị xã Tuy Hòa đã được thi sĩ Tản Ðà ca tụng:

Phú câu cước cá, Ô Loan miếng hàu.

Vượt đèo Cả vào đất Khánh Hòa cũng có lắm hải vị sơn hào như:

Vào Phan Rí, Phan Thiết là quê hương của cá, mắm ngon được cả nước truyền tụng. Nhờ cá mắm nhiều mà có lắm cuộc tình duyên mặn mà dí dỏm:

Ở miền trung đất đai khô cằn, đồng bằng nhỏ hẹp, biển cả mênh mông, núi rừng trùng điệp, có lắm của ngon vật lạ hấp dẫn đối với khách sành ăn. Ðây là một trong những tiềm năng của ngành Du lịch Việt Nam.

TÌNH ĐỜI,TÌNH NGƯỜI.

Làm người phải đắn phải đo
Phải cân nặng nhẹ,phải dò nông sâu

Ai ơi chớ vội cười nhau
Ngắm mình cho tỏ trước sau hẵng cười

Thổi sáo phải biết truyền hơi
Khuyên người phải biết lựa lời mà khuyên

Đấy vàng đây cũng đồng đen
Đấy hoa thiên lý,đây sen nhị hồ

Thương thay thân phận con rùa
Lên đình đội hạc,ra chùa đội bia

Người đời ai có dại chi
Khúc sông rộng hẹp phải tuỳ khúc sông

Thế gian chuộng của chuộng công
Nào ai có chuộng người không được gì

Rượu lạt uống riết cũng say
Người khôn nói lắm dẫu hay cũng nhàm

Vất vả có lúc thanh nhàn
Không dưng ai dễ cầm tàn che cho

Trời có khi nắng khi mưa
Người còn khi sớm khi trưa thất thường

Chì khoe chì nặng hơn đồng
Sao chì không đúc nên cồng nên chuông

Anh hùng như thể thân lươn
Khi cuộn thì ngắn,khi vươn thì dài

Khó thì hết thảo hết ngay
Công cha cũng bỏ,nghĩa thầy cũng quên

Cách sông nên phải lụy thuyền
Nhưng đi đường liền ai phải lụy ai

Giàu đâu đến kẻ ngủ trưa
Sang đâu đến kẻ say sưa rượu chè

Vai mang túi bạc kè kè
Nói quấy nói quá người nghe rần rần

Lễ lộc mang đến cửa quan
Khác nào như thể mang than đốt lò

Làm người suy nghĩ xét ra
Cho tường gốc ngọn cho ra vắn dài

Khi ăn chẳng nhớ đến tai
Đến khi bị phỏng lấy ai mà rờ

Lời nói chẳng mất tiền mua
Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau

Trời nào có phụ ai đâu
Siêng năng thì giàu,có chí thì nên

Mạnh vì gạo,bạo vì tiền
Có tiền có gạo là tiên trên đời

Gió đưa cây cải về trời
Rau răm ở lại chịu lời đắng cay

Làm người ăn tối,lo mai
Việc mình chớ dễ nhờ ai lo dùm

Trăm năm bia đá thì mòn
Ngàn năm bia miệng vẫn còn trơ trơ

Trời nắng rồi trời lại mưa
Chứng nào tật nấy có chừa được đâu

Sông kia có lạ gì cầu
Lòng người nham hiểm biết đâu mà dò

Bởi anh tin bợm mất bò
Tin bạn mất vợ nằm co một mình

Khi nghèo thì chẳng ai nhìn
Đến khi đỗ trạng chín nghìn anh em

Lửa cháy còn chế thêm dầu
Người thì can gián,người chêm mãi vào

Có tiền chán vạn người hầu
Có bấc có dầu chán vạn người khêu

Đất xấu trồng cây khẳng khiu
Những người thô tục nói điều phàm phu

Càng thắm thì càng dễ phai
Thoang thoảng hoa nhài thì được thơm lâu

Đố ai lặn xuống vực sâu
Mà đo miệng cá uốn câu cho vừa

Sa chân bước xuống ruộng dưa
Dù ngay đến mấy cũng ngờ kẻ gian

Con sâu làm rầu nồi canh
Một người làm đĩ xấu danh đàn bà

Giàu sang lắm kẻ tới nhà
Khó khăn cha mẹ ruột rà cũng xa

Thương người người mới thương ta
Muối kia bỏ bể mặn đà có nơi

Thay quần thay áo thay hơi
Thay dáng thay dấp tính người không thay

Đời người có một gang tay
Ai hay ngủ ngày còn có nửa gang

Vàng thì thử lửa thử than
Chuông kêu thử tiếng,người ngoan thử lời

Vàng tâm xuống nước vẫn tươi
Anh hùng lâm nạn vẫn cười,vẫn vui

Chuyện mình giấu đầu hở đuôi
Chuyện xấu cho người vạch lá tìm sâu

Đàn đâu mà khảy tai trâu
Đạn đâu bắn sẻ.gươm đâu chém ruồi

Nói lời thì giữ lấy lời
Đừng như bươm bướm đậu rồi lại bay

Thức lâu mới biết đêm dài
Ở lâu mới biết là người có nhân

Nói người phải nghĩ đến thân
Sờ tay lên trán thử gần hay xa

Năm canh thì ngủ lấy ba
Hai canh lo lắng việc nhà làm ăn

Bấy lâu sao chẳng nói năng
Bây giờ năng nói thì trăng xế tà

Nực cười châu chấu đá xe
Tưởng rằng chấu ngã ai dè xe nghiêng

Mặc đời danh lợi bon chen
Thuyền trôi mặt nước,ngồi xem trăng ngà

Bánh bò gầy cái hôm qua
Hôm nay đem đổ lại ra bánh bèo

Thần tiên lúc túng cũng liều
Huống chi thân cú quản điều hôi tanh

Người thanh tiếng nói cũng thanh
Chuông thanh khẽ đánh bên thành cũng kêu

Xưa kia ăn đâu ở đâu
Bây giờ có bí chê bầu rằng hôi

Tưởng rằng đá nát thì thôi
Nào ngờ đá nát nung vôi lại nồng

Một cây làm chẳng nên non
Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

Tối trời trăng sáng hơn sao
Dẫu rằng núi lở còn cao hơn đồi

Dù no dù đói cho tươi
Khoan ăn bớt ngủ là người lo toan

Tốt gỗ hơn tốt nước sơn
Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người

Còn tiền chán vạn người mời
Hết tiền anh đứng trông trời thở than

Rượu ngon chẳng nệ be sành
Áo rách khéo vá hơn lành vụng may

Từ rày buộc chỉ cổ tay
Chim đậu thì bắt,chim bay thì đừng

Hơi đâu mà giận người dưng
Bắt sao cho được chim rừng đang bay

Dù ai nói đông nói tây
Thì ta vẫn vững như cây giữa rừng

Canh cải mà nấu với gừng
Không ăn thì chớ xin đừng mỉa mai

Ai ơi bưng bát cơm đầy
Dẻo thơm một hạt đắng cay muôn phần

Bạn bè chuyện vãn vài phân
Chớ đem tấc dạ mười phần tuôn ra

Tằm vương tơ,nhện cũng vương tơ
Mấy đời tơ nhện được như tơ tằm

Hoa sen mọc bãi cát lầm
Tuy rằng lấm láp vẫn mầm hoa sen

Muốn trong nước phải đánh phèn
Mua phèn phải tốn đồng tiền mới trong

Củi mục bà để trong nương
Hễ ai hỏi đến trầm hương của bà

Hoài lời nói kẻ vô tri
Một trăm gánh chì đúc chẳng được chuông

Chim khôn gìn giữ bộ lông
Người khôn khi nói cũng không dậm lời

Khó khăn đắp đổi lần hồi
Giàu sang chẳng lẽ chỉ ngồi ăn không

Thứ nhứt sợ kẻ anh hùng
Thứ nhì sợ kẻ bần cùng cố thây

Anh đây như thể lão chài
Vực sâu anh thả lưới,bãi chài anh buông câu

Có trầu mà chẳng có cau
Làm sao cho đỏ môi nhau thì làm

Chữ nhẫn là chữ tượng vàng
Ai mà nhẫn được thì càng sống lâu

Ai ơi !Chớ vội cười nhau
Cây nào mà chẳng có sâu chạm cành

Cạn thì cuộn áo xăn quần
Sâu thì phải dấn cả thân ướt đầm

Xuống ghe lựa chỗ mà ngồi
Chèo nghiêng nước đổ bạn ngồi phía mô

Cá khôn chẳng núp bóng dừa
Gái khôn chẳng thể lê la nhà người

Người khôn nói ít làm nhiều
Còn như người dại lắm điều điếc tai

Chớ nên trông đợi rủi may
Cứ tin vào ở chân tay sức người

Đời người kể được bao lâu
Công danh bánh vẽ,sang giàu chiêm bao

Khi yêu quạt ấm cũng cho
Khi ghét thì cái quạt mo cũng đòi

Chăm chăm chỉ biết véo người
Ai mà véo lại rụng rời chân tay

Rế rách cũng đỡ phỏng tay
Lư đồng hết sáng cũng vương mùi trầm

Nước lên thì nước lại ròng
Dễ gì bắt được con còng trong hang

Bề trên mà biết bao dung
Thì trăm kẻ dưới hết lòng mến yêu

Tưởng rằng củi mục dễ đun
Ngờ đâu củi mục khói um cả nhà

Gẫm xem sự thế thăng trầm
Xưa ông mặt lớn,nay thằng tay trơn

Đã lâu mới gặp bạn quen
Cũng bằng nấu cháo đậu đen xanh lòng

Thử xem thế sự thăng trầm
Xưa ngơi gác tía,nay nằm chòi tranh.

Nước dưới sông hết trong thì đục
Vận người đời lúc nhục,lúc vinh.
(Ca dao-st)

Ca Dao và Hình Ảnh Quê Nhà

Cau già dao bén thì ngon
Người già trang điểm phấn son cũng già

Càng già càng dẻo càng dai
Càng gãy chân chõng, càng sai chân giường

Đi chùa lạy Phật cầu chồng
Hộ pháp liền bảo đờn ông hết rồi

Cầm tay em như ăn bì nem gỏi cuốn
Dựa lưng nàng như uống chén rượu ngon

Đàn bà nói có là không
Nói yêu là ghét, nói buồn là vui

Đàn bà tốt tóc thì sang
Đàn ông tốt tóc thì mang nặng đầu

Đứng giữa trời anh nói không sai.
Vương anh đội trên đầu,
Phụ mẫu anh gánh hai vai,
Còn Hiền Thê ơi, lại đây anh cõng.
Còn hai tay, anh vớt thuyền.

Còn trời còn nước còn non,
Còn cô bán rượu tôi còn say sưa

VẦN CA DAO BẤT HỦ

“Giá như ngày ấy…”

Đã là người dân nước Việt mến yêu mấy ai mà không biết đến bài ca dao sau:

Đoạn thơ trên tràn đầy sự tiếc nuối xót xa, thoảng trong đó vời vợi những lời oán trách nhẹ nhàng nhưng không kém phần day dứt. Những người đã từng trải thường bị một tâm lý gây xúc động khá mạnh, đó là sự nuối tiếc những sự việc đã qua. Thời gian không bao giờ quay trở lại. Chẳng có sức mạnh nào có thể tái tạo lại được những ngày xưa. Mà nếu có thể, thì việc đó đâu còn được gọi là thuở ban đầu? Nên cái nỗi buồn “giá như ngày ấy” luôn luôn tồn tại.

Một ngày nào đó người con gái đã ngậm ngùi thầm kể với người mình yêu:

“Trèo lên cây bưởi hái hoa
Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân”

Ngay mờ đầu tâm sự đã gợi lên một sự phi lý như chính cuộc đời lỡ dở của nàng. Nàng muốn hái hoa , nhưng sao chẳng dễ dàng! Nàng phải trèo lên để hái hoa mãi trên cây bưởi đầy gai góc, đến khi trở xuống vườn cà những tưởng hái bông cà màu tim tím nhưng hóa ra lại là hái nụ tầm xuân xanh biếc. Ôi nàng … sao thật trớ trêu!

Rồi sau đó nàng lặng lẽ ngắm nhìn nụ tầm xuân chớm nở đầy sự khêu gợi quyến rũ mà chợt nghĩ tới mình, khi buổi còn con gái hơ hớ chưa chồng và cả người bạn tình thắm thiết nồng nàn thuở ấy!

“Em có chồng anh tiếc lắm thay!”. Vâng, tiếc lắm chứ. Làm sao một người con trai đầy sức mạnh, đầy tham vọng lại không tiếc, lại không đau đớn điên người khi thấy người con gái mình hằng yêu thương lại ở trong vòng tay kẻ khác.

Để lột tả một cách mạnh mẽ tâm trạng, ở đây vần thơ đột ngột chuyển hướng từ thể lục bát về thể 7 chữ được gieo vần thanh trắc; giữa câu và ở cuối câu: “biếc” và “tiếc” tạo ra những âm thanh mạnh, gắt và cao trong cái giai điệu vốn bình bình trầm lặng của câu thơ lục bát (bài thơ này không hẳn là thể song thất lục bát bởi vì có những bốn câu lục bát tiếp theo).

Sao quá cay chua và thất vọng vậy? Chỉ vỏn vẹn có mỗi ba đồng thôi, số tiền này đâu có lớn, ấy thế mà nó đổi được cả cuộc đời, đổi cả được bầu trời hạnh phúc?

“Ba đồng một mớ trầu cay
sao anh chẳng hỏi những ngày còn không?”

Vụng dại quá, tệ hại quá và đau đớn xé lòng biết bao. Có lúc chúng mình đã từng kề sát bên nhau tưởng có thể xiết được lấy tay nhau cùng sánh bước, ấy thế mà ai quá chậm chạp, ai quá do dự nên để rồi dưới gầm trời này, chúng mình mãi mãi xa nhau, không thể nào tìm được, không bao giờ chuộc được, định mệnh khắc nghiệt biết bao . Nỗi trường hận “giá như ngày ấy…” chính là ở chỗ này!

Anh xa rồi như một cái bóng thoảng qua, còn em chơi vơi ở lại, không gian, thời gian chẳng phải của mình, đời tối xẫm màu vô nghĩa, với phận “chim chậu cá lồng” để chờ đợi sự kết thúc một kiếp người… Vần thơ đột ngột quay trở về và cũng bỏ lửng vội vàng ngay tại đó với kiểu bảy chữ cùng sự gieo vần thanh trắc đầy hiểm hóc gay cấn là cách tối ưu để lột tả một định mệnh xót xa của một con người:

“Cá cắn câu biết đâu mà gỡ
Chim vào lồng biết thuở nào ra”.

Bài ca dao trên quả thật là bất hủ bởi tính nghệ thuật và sức đồng cảm mạnh mẽ, lay động biết bao tâm hồn cô quạnh ở trên cõi đời này. Bởi một lẽ, trong suốt cuộc đời dài dằng dặc,nỗi trắc ẩn tiếc nuối lớn hay nhỏ đâu phải của riêng ai? Bởi vì nhân quần này, đã mấy ai không nếm vào vị đắng của tình yêu! Bài ca dao sẽ sống mãi như một viên ngọc quý được giữ gìn bao bọc trong cõi thẳm sâu tâm hồn và những hoài ước của chúng ta.

Ví dặm Nghệ Tĩnh

Yêu là thế, thế mà rồi cô gái lại dặn dò chàng trai thế này:

Thế mới biết, lễ giáo khắt khe lắm, nhưng các đôi tình nhân vẫn yêu nhau tha thiết bạn ạ.

NHỮNG CÂU NÓI BẤT HỦ

– Người già trái chứng
– Người già đái tật
– Miếng ăn là miếng nhục
– Lạt mềm buộc chặt
– Quạ nào quạ chẳng đen đầu
– Quạ không bao giờ mổ mắt quạ
– Không ai nắm tay thâu ngày đến tối
– Không ai duỗi tay thâu ngày đến sáng
– Nhân vô thập toàn
– Ai uốn câu cho vừa miệng cá
– Gà mái không gáy
– Gió thổi là chổi trời

– Cọ già là bà lim

– Bàng già là bà lim

– Tre già là bà lim

– Thật thà là cha quỷ quái

– Cờ bạc là bác thằng bần

– Cơm tẻ là mẹ ruột

– Sạch sẽ là mẹ sức khỏe

– Thất bại là mẹ thành công

– Lúa ré là mẹ lúa chiêm

– Rau bợ là vợ canh cua

– Gió đông là chồng lúa chiêm

– Khách đến nhà không gà thì vịt

– Sói đến nhà không mất gà cũng mất vịt

– Con nhà tông, không giống lông cũng giống cánh

– Ruốc tháng hai, chẳng khai thì thối

– Họ nhà khoai, không ngứa cũng lăn tăn

– Mống đông vồng tây, không mưa dây cũng bão dật

– Chớp thừng, chớp chão, không bão thì mưa

– Không mưa thì gió, khi mặt trời đổ như son

– Nứa trôi sông chẳng dập thì gãy, gái chồng rẫy chẳng chứng nọ cũng tật kia

– Trống tháng bảy, không hội thì chay

– Tháng sáu heo may, chẳng mưa thì bão

– Thâm đông, hồng tây, dựng may, chẳng mưa dây cũng bão giật

– Cơm ăn vào bụng chẳng sớm thì trưa, nón đội trên đầu chẳng mưa thì nắng

– Đời ông cho chí đời cha, mây ráng Sơn Trà chẳng gió thì mưa

– Mấy đời chó sủa ngõ không, chẳng thằng ăn trộm cũng ông ăn mày

– Thủ thỉ nhăng quỷ ma
– Tẩm ngẩm mà đấm chết voi

– No bụng nhưng đói con mắt

– Cũ người, mới ta

– Làm thần đất ta, làm ma đất người

– Cơm treo mèo nhịn đói

– Của rẻ là của ôi, của đầy nồi là của không ngon

– Hiền trước mặt, làm giặc sau lưng

– Khôn nhà, dại chợ

– Già đời còn mang tơi chữa cháy

– Được tiếng lại được miếng

– Khôn với vợ, dại với người dưng

– Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi

– Cây muốn lặng mà gió chẳng ngừng

– Có tiếng mà chẳng có miếng

– Có bột chẳng gột nên hồ

– Có vỏ mà nỏ có ruột

– Hữu danh vô thực

– Dao sắc không chặt được chuôi

– Hùm dữ chẳng nỡ ăn thịt con

– Người lười nhưng đất không lười

– Không có tay mà hay nói

– Không có tinh lại có tướng

– Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời

– Giàu đâu ba họ, khó đâu ba đời

– Ai giàu ba họ, ai khó ba đời

– Không ai khen đám cưới, không ai cười đám ma

– Không ai nuôi chó một nhà, nuôi gà một sân

– Ở hiền gặp lành

– Môi hở răng lạnh

– Tay nhọ mặt cũng nhọ

– Leo cao ngã đau

– Trâu ác trâu dạc sừng

– Trâu chậm uống nước đục

– Đi đêm có ngày gặp ma

– Đất lành chim đậu

– Kính lão đắc thọ

– Đi một ngày đàng học một sàng khôn

– Xấu thiếp hổ chàng

– Năng nhặt chặt bị

– Quan to vạ cả

– Quan cả vạ đau

– Đục nước béo cò

– Kiến tha lâu cũng có ngày đầy tổ

– Có công mài sắt, có ngày nên kim

– Miệng ăn núi lở

– Tham thì thâm

– Túng thì tính

– Bút sa gà chết

– Được đằng chân lân đằng đầu

– Được voi đòi tiên

– Hết xôi rồi việc

– Đắt chỗ buôn, buồn chỗ bán

– Được lòng ta, xót xa lòng người

– Có mới nới cũ

– Cả cây nậy buồng

– Cả vốn lớn lãi

– Ăn lắm trả nhiều

– Ăn mặn khát nước

– Tửu nhập ngôn xuất

– Tức nước vỡ bờ

– Tre già măng mọc

– Vợ là ông thì chồng là tớ

– Thẳng da bụng chùng da mặt

– Tốt vay dày nợ

– Bé trộm gà, cả trộm trâu

– Đứa dại cởi truồng, thằng khôn xấu mặt

– To đầu khó chui

– Muốn ăn cá phải thả câu

– Giỏ nhà ai quai nhà nấy

– Cha nào con nấy

– Đâm lao phải theo lao

– Trâu buộc ghét trâu ăn

– Có nước có cá

– Sinh sự, sự sinh

– Ngoài đồng vàng mơ trong nhà mờ mắt

– Lúa bóng vang, vàng con mắt

– Một người làm quan thì sang cả họ

– Một người làm quan cả họ được nhờ

– Không ưa đổ thừa cho thối

– Không ưa thì dưa có dòi

– Không ưa dổ thừa cho xấu

– Không lấy thì quấy cho hôi

– Không đau làm giàu mấy nỗi

– Không đắp bờ thì trơ chân lúa

– Không con héo hon một đời

– Không được ăn thì đạp đổ

– Chẳng lo trước ắt lụy sau

– Không trâu bắt chó đi cày

– Không trâu bắt dê đi dầm

– Không chó bắt nèo ăn cứt

– Không voi lấy bò làm lớn

– Không có cá lấy rau má làm trọng

– Có sừng thì đừng hàm trên

– Có sừng thì đừng có nanh

– Đất xấu vắt chẳng nên nồi

– Của ngon, không đến mẹ con mày

– Cây ngay không sợ chết đứng

– Phụ vợ không gặp vợ

– Không đẻ không đau

– Không làm không tiếc

– Không có lửa sao có khói

– Không có bột sao gột nên hồ

– Không có mây sao có mưa

– Không làm thì hàm không động

– Không bóp cổ thì chẳng lè lưỡi

– Không đồng chẳng mong được kiện

– Không mà cả trả không hết

– Không thẳng tay gàu, nước đâu đến ruộng

– Không vào hang hổ sao bắt được hổ

– Không thầy đố mày làm nên

– Không có cha mẹ ai ở lỗ nẻ mà lên

– Vô tửu bất thành lễ

– Vô vọng bất thành quan

– Vô tiểu nhân bất thành quân tử

– Bất học vô thuật

– Được ăn, được nói, được gói mang về

– Cơm ăn, tiền lấy, giấy trả quan

– Ráng mỡ gà, có nhà thì chống

– Trời đang nắng, cỏ gà trắng thì mưa

– Chớp đông nhay nháy, gà gáy thì mưa

– Xấu như ma, vinh hoa cũng đẹp

– Lúa chiêm lấp ló đầu bờ, hễ nghe tiếng sấm phất cờ mà lên

– Bao giờ đom đóm bay ra, hoa gạo rụng xuống thì tra hạt vừng

– Bé con nhà bác, lớn xác con nhà chú

– To đầu mà dại, nhỏ dái mà khôn

– Mùa bớt ra, chiêm tra vào

– Mèo già hóa cáo, chuột lão hoa dơi

– Đói ăn rau, đau uống thuốc

– Khôn quảng đại, dại tham lam

– Đói ăn vụng, túng làm liều

– Để một thì giàu, chia nhau thì khó

– Đểu thì mới có, phũ* như chó mới giàu (* độc ác, tàn nhẫn)

– Ở chọn nơi, chơi chọn bạn

– Nhà sạch thì mát, bát sạch thì ngon

– Ở bầu thì trong, ở ống thì dài

– Ăn trông nồi, ngồi trông hướng

– Trẻ cậy cha, già cậy con

– Già dọc thì sang, già ngang đổ vào

– Khôn nhờ, dại chịu

– Khôn ra miệng, dại ra tay

– Chết trước được mồ mả, chết sau nằm ngả nằm nghiêng

– Đời cua cua máy, đời cáy cáy đào

– Chó treo, mèo đậy

– Mềm nắn, rắn buông

– Kiện gian, bàn ngay

– Ăn vóc, học hay

– Được mùa cau thì đau mùa lúa, được mùa lúa thì úa mùa cau

– Nồi tròn úp vung tròn, nồi méo úp vung méo

– Lê tồn Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong

– Đẹp như tiên không tiền cũng ế

– Sắc như mác không bạc cũng cùn

– Nhà không móng như bóng không người

– Cơm không rau như đau không thuốc

– Quân không tướng như hổ không đầu

– Cá không ăn muối cá ươn, con cãi cha mẹ trăm đường con hư

– Thuyền theo lái, gái theo chồng

– Đường đi hay tối, nói dối hay cùng

– Lòng vả cũng như lòng sung

– Lòng bí cũng như ruột bầu

– Lòng trâu cũng như dạ bò

– Cơm có bữa, chợ có chiều

– Buôn có bạn, bán có phường

– Củi mục khó đun, chổi cùn khó quét

– Trai xóm trại, gái hàng cơm

– Trai lính tuần, lính thú, gái cửa phủ, cửa đồn

– Thịt trâu không tỏi, ăn gỏi không mơ

– Làm ruộng có năm, nuôi tằm có lứa

– Quân vô tướng như hổ vô đầu

– Nam vô tửu như kỳ vô phong

– Ruộng không phân như thân không của

– Tửu nhập tâm như hổ nhập lâm

– Gái có chồng như rồng có mây

– Gái không chồng như cối xay chết ngõng

– Con có cha như nhà có nóc

– Cơm có canh như tu hành có vãi

– Cơm vào dạ như vạ vào thân

– Trai có vợ như rợ buộc chân

– Trai thấy gái lạ như quạ thấy gà con

– Hùm chết để da, người ta chết để tiếng

– Gái gặp hơi trai như thài lài gặp cứt chó

– Tiền vào nhà khó như gió vào nhà trống

– Quan thấy kiện như kiến thấy mỡ

– Nồi đồng dễ nấu, chồng xấu dễ sai

– Củi tre dễ nấu, chồng xấu dễ sai

– Củi khô dễ nấu, chồng xấu dễ xài

– Ớt nào là ớt chẳng cay, gái nào là gái chẳng hay ghen chồng

– Thuyền mạnh về lái, gái mạnh về chồng

– Thuyền không lái, gái không chồng

– Thuyền theo lái, gái theo chồng

– Trai chở đò ngang, gái bán hàng trầu miếng

– Trâu kén cỏ trâu gầy, trò kén thầy trò dốt

– Một năn chăn tằm bằng ba năm làm ruộng

– Một năm ăn trộm bằng ba năm làm

– Một sào nhà bằng ba sào đồng

– Tằm đói một bữa bằng tằn đói nửa năm

– Một quả cà bằng ba thang thuốc

– Một tiền gà bằng ba tiền thóc

– Một lần sa bằng ba lần đẻ

– Một mẹ già bằng ba then cửa

– Một miếng giữa làng bằng một sàng xó bếp

– Một miếng khi đói bằng một gói khi no

– Một mẹ già bằng ba đứa ở

– Một đêm nằm bằng năm ở

– Một người lo bằng kho người làm

– Một bát cơm rang bằng một sàng cơm nấu

– Một điều nhịn bằng chín điều lành

– Một người nhà bằng ba người mượn

– Một lạy sống bằng đống lạy chết

– Một thời loạn bằng vạn thời bình

– Một ngày dương gian bằng ngàn ngày âm phủ

– Một nạm gió bằng một bó chèo

– Trôn nồi năm bằng cằm niêu mốt

– Một qua tiền công không bằng một đồng tiền thưởng

– Ba đấm không bằng một đạp

– Một trăm ông chú không bằng một mụ bà cô

– Một trăm đám cưới không bằng hàm dưới cá trê

– Con nuôi cha không bằng bà nuôi ông

– Chửi cha không bằng pha tiếng

– Trăm hay không bằng tay quen

– Một kho vàng không bằng một nang chữ

– Ruộng sâu, trâu nái, không bằng con gái đầu lòng

– Ải thâm không bằng dầm ngấu

– Vợ mới cưới không bằng đi xa về

– Một mâm cẩn xui không bằng cái mui cá mè

– Quen tay không bằng hay làm

– Quần hồ bất như độc hổ (Nhiều cáo không bằng một hổ)

– Sợ mẹ cha không bằng sợ tháng ba dài ngày

– Trăm nghe không bằng một thấy

– Ruộng đất bề bề không bằng một nghề trong tay

– Phép vua thua lệ làng

– Lệ làng hơn phép nước

– Thế vui thua tục dân

– Khôn lỏi sao bằng giỏi đàn

– Cứt cá bằng lá rau

– Yếu trâu cũng bằng khỏe bò

– Một nghề cho chín còn hơn chín nghề

– Xấu đều hơn tốt lỏi

– Sống đục sao bằng thác trong

– Dại bầy hơn khôn độc

– Ngốc đàn hơn khôn độc

– Tốt số hơn bố giàu

– Đẹp nết hơn đẹp người

– Áo rách khéo vá hơn lành vụng may

– Cái nết đánh chết cái đẹp

– Tốt gỗ hơn tốt nước sơn

– Một giọt máu đào hơn ao nước lã

– Rộng bụng hơn rộng nhà

– Rậm người hơn rậm của

– Xanh trong nhà hơn già ngoài đồng

– Nhất kinh kỳ, nhì phố Hiến

– Nhất Đồng Nai, nhì hai huyện

– Nhất cảm phòng, nhì lòng lợn

– Nhất canh trì, nhì canh viên, ba canh điền

– Nhất cận thị, nhị cận giang

– Nhất mẹ, nhì cha, thứ ba bà ngoại

– Nhất nước, nhì phân, tam cần, tứ giống

– Nhất gái một con, nhì thuốc ngon nửa điếu

– Nhất gái một con, nhì rượu ngon nửa chén

– Nhất bồ câu ra ràng, nhì bắp rang rưới mặn

– Thứ nhất đom đóm vào nhà, thứ nhì chuột túc thứ ba bông đèn

– Nhất hay chữ, nhì dữ đòn (hay chữ không bằng dữ đòn)

– Thứ nhất giặc phá, thứ nhì nhà cháy (giặc phá không bằng nhà cháy)

– Nhất có râu nhì bầu bụng

– Nhất thì nhì thục

– Nhất thủ, nhì vĩ

– Nhất vợ, nhì trời

– Nhất nhập nhoạng, nhì rạng đông

– Nhất cày ải, nhì rải phân

– Nhất bì, nhì cốt

– Nhất vợ dại, nhì cờ bạc, ba nợ đòi

– Nhất con, nhì cháu, thứ sáu người dưng

– Nhất dáng, nhì men, ba chàm, bốn vẽ

– Nhất duyên, nhì phận, tam phong thổ

– Nhất chơi tiên, nhì giỡn tiền

– Nhất gái hơn hai, nhì trai hơn một

– Nhất thì học sĩ, nhì thì canh nông

– Nhất lé, nhì lùn, tam hô, tứ rỗ

– Nhất bạch, nhì hoàng, tam khoanh, tứ đốm

– Làm phúc quá tay, ăn mày không kịp

– Khôn làm văn tế, dại làm văn bia

– Tốt đẹp phô ra, xấu xa đậy lại

– Chim khôn tiếc lông, người ngoan tiếc lời

– Năng ăn hay đói, năng nói hay lầm

– Thuốc đắng dã tật, sự thật mất lòng

– Làm thầy thì dễ, thế chuộng thì khó

– Xa chùa vắng trống, gần chùa inh tai

– Đời cha vo tròn, đời con bóp bẹp

– Đẹp vàng son, ngon mật mỡ

– Một đêm nằm, một năm ở

– Khéo vá may, vụng chày cối

– Khôn ăn cái, dại uống nước

– Khôn thì ngoan, gian thì nồng

– Gươm hai lưỡi, miệng trăm hình

– Thua keo này, bày keo khác

– Được thì đùa, thua thì chịu

– Buôn gặp chầu, câu gặp chỗ

– Trước lạ sau quen

– Cũ người mới ta

– Đục nước béo cò

– Giậu đổ bìm leo

– Khôn nhà dại chợ

– Văn mình vợ người

– Tiền phú hậu bần

– Tre già măng mọc

HOA QUẢ QUA CA DAO

ST !

RAU QUA CA DAO TỤC NGỮ

ST !

Phương ngữ Nam bộ trong ca dao về tình yêu

Phương ngữ Nam Bộ là một dạng từ ngữ địa phương của vùng đất Nam bộ. Nó thể hiện cách nói, cách sử dụng từ ngữ, kiểu phát âm riêng của con người Nam bộ. Phương ngữ Nam bộ còn là nơi chứa đựng các yếu tố văn hóa, phong tục tập quán, sinh hoạt xã hội của con người và vùng đất Nam bộ.

Tìm hiểu phương ngữ Nam bộ được thể hiện qua ca dao Nam bộ là một cách nhằm khẳng định thêm tính độc đáo, sắc sảo, phong phú và đa dạng của con người Nam bộ xưa trong việc sử dụng lời ăn tiếng nói của mình.

Ca dao Nam bộ trước hết là ca dao của người Việt ở Nam bộ nên nó mang đầy đủ yếu tố của vùng đất Nam bộ, trong đó có việc sử dụng từ ngữ của con người ở đây. Sống giữa thiên nhiên hài hòa và đa dạng với rừng tràm bạt ngàn và một vùng sông nước bao la, trong lời ăn tiếng nói của con người ở đây không khỏi ảnh hưởng của các hình tượng thiên nhiên này. Cho nên, có thể nói, giàu tính hình tượng là một đặc điểm trong cách dùng từ của ca dao Nam bộ:

Chồng chèo thì vợ cũng chèo
Hai đứa cùng nghèo lại đụng với nhau.

“Đụng” ở đây là “lấy”, “lấy nhau” hay nói cho văn hoa một chút là “kết duyên” nhau. Với các từ trên, người Nam bộ có thể hoàn toàn sử dụng được, nhưng đôi khi con người ở đây không dùng những khuôn mẫu có sẵn đó, mà lại dùng từ “đụng” rất giàu hình tượng này để tạo điểm nhấn, mang sắc thái mạnh. Chính điều này đã làm phong phú thêm cho kho tàng phương ngữ Nam Bộ.

* * *

Giàu tính so sánh và cụ thể cũng là một đặc điểm của ca dao Nam bộ. Nam bộ là một vùng sông nước, có hệ thống sông ngòi chằng chịt nên hình ảnh chiếc ghe, con đò, con cá, con tôm, cần câu, cái lờ… là những vật rất quen thuộc đối với người dân nơi đây. Quen thuộc đến mức đã đi vào tâm thức của họ và được thể hiện qua lời ăn tiếng nói hằng ngày, cũng như đã âm thầm đi vào ca dao:

Thân em như cá trong lờ
Hết phương vùng vẫy không biết nhờ nơi đâu.

“Cá – lờ” là một hình tượng cụ thể, tác giả dân gian đã lấy hình tượng cụ thể này để làm đối tượng so sánh với con người, cụ thể ở đây là cô gái. Trường hợp này, ta cũng sẽ bắt gặp rất nhiều trong ca dao Nam bộ.

* * *

Một đặc điểm nữa trong việc sử dụng phương ngữ Nam bộ trong ca dao Nam bộ là giàu tính cường điệu, khuếch đại. Đây là cách nói thể hiện rõ nét sự lạc quan và tính cởi mở của con người Nam bộ. Tính giàu cường điệu, khuếch đại này được con người Nam bộ sử dụng thể hiện tính chất phác, mộc mạc, độc đáo, gây được ít nhiều cảm xúc cho người đọc:

Anh than một tiếng nát miễu xiêu đình
Cây huệ kia đang xanh lại héo, cá ở ao huỳnh vội xếp vi.

Rõ ràng, chỉ than có một tiếng mà “nát miễu xiêu đình” thì quả là nói quá. Nhưng chính cách nói quá này mới tạo được ấn tượng, gây được cảm xúc, tạo được sự chú ý cho đối phương.

Hay để bộc lộ tình thương của mình, người Nam bộ không ngại nói thẳng, nói quá, nói cường điệu, nói khuếch đại. Họ nói cốt sao cho hết cái thương đang cháy bỏng trong lòng mình:

* * *

Giàu tính dí dỏm, hài hước cũng là một trong những đặc điểm trong cách sử dụng từ ngữ trong ca dao Nam bộ. Ca dao Nam bộ, ngoài những cách nói cường điệu, giàu hình tượng, đôi lúc có phần thâm trầm, sâu lắng còn có những cách nói mang tính hài hước, dí dỏm. Đây là tinh thần lạc quan trong tính cách của con người Nam bộ. Chính tinh thần lạc quan này đã tiếp thêm cho họ sức mạnh trong việc chống chọi lại với thiên nhiên khắc nghiệt, với thú dữ hoành hành. Tuy là nói dí dỏm, hài hước nhưng không hẳn là một cách nói chơi, mà là có ngụ ý, ngụ tình. Đó cũng là kiểu nói: “nói chơi nhưng làm thiệt”:

Bên dưới có sông, bên trên có chợ
Hai đứa mình kết vợ chồng nghen.

Rõ ràng, đây là cách nói mang tính chất vừa nói chơi lại vừa nói thiệt. Bông đùa đấy nhưng cũng là thật đấy. Nếu đối phương không chịu thì bảo là “nói chơi”. Còn nếu ưng thuận thì tiếp tục lấn tới tán tỉnh. Và trong bài ca dao sau, cũng không hẳn là dí dỏm, hài hước, nói cho vui một cách đơn thuần:

* * *

Có cách nói hài hước, dí dỏm, lại có cách nói cường điệu, khuếch đại, ca dao Nam bộ cũng có những cách nói rất giản dị, chân tình. Trong hoàn cảnh tự tình với nhau, đôi khi họ không dùng những từ hoa mỹ, không nói những từ chứa đựng nhiều tầng ý nghĩa, mà chỉ nói một cách mộc mạc, bình dân, cốt sao bày tỏ được lòng mình:

Anh về em nắm vạt áo em la làng
Phải bỏ chữ thương chữ nhớ giữa đàng cho em.

Quả là mộc mạc, quả là chân tình. Trong từng câu, từng chữ không có gì khó hiểu cả, tạo được sự cảm thông và gây được cảm xúc cho người đọc.

Hay:
Anh tưởng giếng sâu anh nối sợi dây cụt
Ai dè giếng cạn nó hụt sợi dây
Qua tới đây không cưới được cô hai mày
Qua chèo ghe ra biển đợi nước đầy qua chèo trở vô.

Phương ngữ Nam bộ ra đời tuy có muộn hơn so với phương ngữ của các vùng khác, nhưng không vì thế mà nó nghèo nàn, hời hợt, mà trái lại nó rất đa dạng, phong phú và sâu lắng. Nó chứa đựng các yếu tố văn hóa, phong tục tập quán cùng tính cách của con người Nam bộ. Phương ngữ Nam bộ không chỉ đơn thuần là khẩu ngữ của người Nam Bộ mà nó đã bước vào văn học nghệ thuật với một tư thế rất đường hoàng. Những câu ca dao Nam bộ vừa dẫn trên là một minh chứng cho điều này.

Tuyển chọn những lời ca dao hay về TRÂU

Thuyduongnsx tuyển chọn

1. Chẳng tham lắm ruộng nhiều trâu
Tham vì ông lão tốt râu mà hiền

2. Mua trâu xem vó, lấy vợ xem nòi
Mua trâu xem vó, mua chó xem chân

3. Trên đồng cạn dưới đồng sâu
Chồng cầy vợ cấy con trâu đi nằm

4. Đường về đêm tối canh thâu
Nhìn anh tôi tưởng con trâu đang cười

5. Thiệt tình hỏng phải ba hoa
hôm qua tui thấy con gà đá trâu…..

6. Gà đá trâu bao lâu mới thắng
trâu đá gà què cẳng con trâu

7. Ai nói chăn trâu là khổ??
Tôi chăn nàng còn khổ hơn trâu.

11. Chăn trâu chả biết mặt trâu
Trâu về cầu Cậy biết đâu mà tìm.

12. Ầu ơ… Ví dầu ví dẫu ví dâu
Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng

19. Nước giữa dòng chê trong, chê đục
Vũng trâu đầm hì hục khen ngon

20. Đời vua Thái Tổ – Thái Tông
Lúa mọc đầy đồng trâu chẳng buồn ăn.

22. Trai thì cày ruộng khiển trâu
Gái thì phải biết bổ cau têm trầu

23. Trăm năm còn có gì đâu
Miếng trầu liền với con trâu một vần

24. Trâu bò được ngày phá đỗ
Con cháu được ngày giỗ ông

25. Trâu bò húc nhau, ruồi muỗi chết

26. Trâu đồng ta ăn cỏ đồng ta
Tuy rằng cỏ cụt nhưng mà cỏ thơm

29. Dầu bông bưởi, dầu bông lài
Xức vô tới Tết còn hoài mùi cứt trâu

30. Dù ai buôn bán nơi đâu
Mồng Mười, tháng Tám chọi trâu thì về

31. Ðàn đâu mà gảy tai trâu
Ðạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

32. Thương nhau vì nợ vì duyên
Trâu đôi chi đó, thổ điền chi đây

34. Chẳng qua số phận long đong
Cột trâu, trâu đứt, cột tròng, tròng trôi.

36. Ru Con

38. Trâu chậm thời anh bán đi,
Dao cùn đánh lại vợ thì làm sao.

39. Trâu anh con cưỡi con dòng,
Có con đi trước lòng thòng theo sau.

40. Trâu anh con cưỡi con dòng,
Lại thêm con nghé cực lòng thằng chăn.

41. Trâu buộc thì ghét trâu ăn,
Quan võ thì ghét quan văn dài quần.

42. Trâu kia kén cỏ bờ ao,
Anh kia không vợ đời nào có con.

43. Trâu khoẻ chẳng lọ cày trưa,
Mạ già ruộng ngấu không thua bạn điền.

45. Em như ngọn cỏ phất phơ
Anh như con nghé nhởn nhơ giữa đồng

52. Công anh chăn nghé đã lâu
Bây giờ nghé đã thành trâu ai cày?

54. Ầu ơ… Ví dầu ví dẫu ví dâu
Ví qua ví lại ví trâu vô chuồng

55. Anh về bán ruộng cây da
Bán cặp trâu già, mới cưới đặng em

57. Hút sách là chuyện chẳng lành
Trâu bò vườn ruộng hoá thành khói mây

58. Tậu trâu, cưới vợ, làm nhà
Cả ba việc ấy đều là khó thay.

59. Mười năm cắp sách theo thày
Năm thứ mười một vác cày theo trâu.

60. Bốn ông đập đất, một ông phất cờ,
Một ông vơ cỏ, một ông bỏ phân.
Đố con gì? (Con trâu)

73.Chồng dữ thì em mới rầu
Mẹ chồng mà dữ giết trâu ăn mừng

74.Chùn đùi, thắt quản, ngắn đuôi
Sừng to móng hến thì nuôi đúng rồi (Chọn trâu)
75.Cao đầu thấp hậu thì tậu liền tay

76.Cao vây, nhỏ sống thì rộng đường cày (Chọn trâu)

77.Chết lỗ chân trâu

78.Có ăn có chọi mới gọi là trâu

80. Con cá rô thia ẩn bóng chân trâu
Một trăm quân tử tới câu cũng chẳng màng.

81.Con gái mười bảy bẻ gãy sừng trâu

82.Con tằm nó ăn lá dâu
Có khi ăn mất cả trâu lẫn bò

83.Con vợ khôn lấy thằng chồng dại
Như bông hoa lài cặm bãi cứt trâu

84.Công anh chăn nghé đã lâu
Bây giờ nghé lớn thành trâu ai cày

85.Đàn đâu mà gảy tai trâu
Đạn đâu bắn sẻ, gươm đâu chém ruồi

91. Vợ bé nghé con
Sẩy đàn tan nghé

92.Lạc đường nắm đuôi chó
Lạc ngõ nắm đuôi trâu

95.Lộn con toán bán con trâu

97.Một rằng mình quyết lấy ta
Ta về bán cửa bán nhà mà đi
Ta về bán núi Ba Vì
Bán chùa Hương Tích, Phật đi làu làu
Ta về bán hết ngựa trâu
Bán hột thầu dầu, bán trứng gà ung
Bán ba mươi sáu Thổ công
Bán ông Hành Khiển, vợ chồng Táo Quân
Bán từ giờ Ngọ giờ Dần
Giờ Tí giờ Sửu giờ Thân giờ Mùi
Ta về bán cả que cời
Bán tro đun bếp bán trăm khêu đèn
Ta về bán trống bán kèn
Có gì bán hết, lấy tiền cưới em

99.Trăm năm cơ hội tình cờ,
Đàn cầm anh gãy, câu thơ anh đề.
Muốn cho thuận nẻo đi về,
Anh sang làm rể, em về làm dâu.
Số giàu lấy khổ cũng giàu,
Số nghèo chín đụn mười trâu cũng nghèo.
Phải duyên phải kiếp thì theo,
Khuyên em chớ nghĩ giàu nghèo làm chi.
Em ơi! chữ vị là vì,
Chữ dục là muốn, chữ tùy là theo,
Ta đã yêu nhau tam tứ núi cũng trèo,
Thất bát giang cũng lội, tam thập đèo cũng qua.

CA DAO BẮT ĐẦU BẰNG CHỮ A


Bạn đang xem bài viết TỔNG HỢP VỀ CA DAO tại chuyên mục [ Danh ngôn ] trên website Nangngucnoisoi.org. Hãy chia sẻ nếu bài viết này hữu ích cho mọi người.